- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? * Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bạch H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2023/HN-ST Ngày: 31/5/2023 Về việc: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Thanh Thái
- Các Hội thẩm Nhân dân:
1.
Bà Ngô Thị Út Hậu
2.
Ông Trần Thanh Quang
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Thị Như Ngọc – Thư ký Tòa án Nhân dân quận Ô Môn.
Ngày 31 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình đã thụ lý số: 297/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2022 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2023/QĐXXST-HN ngày 20 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 27/2023/QĐHPT-HN ngày 09 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Bạch H, sinh năm 1987 (có mặt)
Thường trú: Số 101/13, KV T, phường T, quận O, Tp Cần Thơ
- Bị đơn: ông Nguyễn Thanh A, sinh năm 1989 (vắng mặt)
Thường trú: Số 101/13, KV T, phường T, quận O, Tp Cần Thơ
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo Đơn khởi kiện ngày 06/02/2023 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bạch H trình bày: Giữa bà và ông Nguyễn Thanh A tự nguyện tiến đến hôn nhân năm 2009, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Thới An, quận Ô Môn, Tp Cần Thơ. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng sau đó đến đầu năm 2023, ông bà phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân nên không còn sống chung. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Nguyễn Thanh A không chăm lo cuộc sống gia đình, không quan tâm đến vợ con, cuộc sống vợ chồng không hợp nhau. Hiện vợ chồng không còn sống cùng nhau. Bà xác định tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc nên hiện tại ông bà không còn sống chung với nhau. Bà không còn tình cảm với ông Nguyễn Thanh A nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Thanh A.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống bà và ông Nguyễn Thanh A có 02 con chung tên Nguyễn Vũ Nguyên, sinh ngày 27/3/2012 và Nguyễn Thị Bảo Ch, sinh ngày 02/02/2009. Ông A đang nuôi 02 con nên thống nhất giao 02 con chung cho ông A trực tiếp nuôi dưỡng, bà không phải cấp dưỡng nuôi con do ông A không yêu cầu.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Nguyễn Thanh A: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên không thể tiến hành hòa giải được. Do đó, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc được ly hôn với ông Nguyễn Thanh A, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Nguyễn Thanh A không còn quan tâm đến vợ, con, thường xuyên cãi nhau, từ khi vợ chồng không sống cùng nhau từ đầu năm 2023 đến nay, không ai quan tâm đến ai, tự mỗi bên làm kiếm thu nhập để sinh sống.
Về con chung bà H thống nhất giao cháu Nguyễn Vũ Nguyên, sinh ngày 27/3/2012 cho ông Nguyễn Thanh A tiếp tục nuôi dưỡng do ông Nguyễn Thanh A hiện tại là người đang trực tiếp nuôi cháu Nguyên, quá trình bà đến thăm nom cháu Nguyên thì ông Nguyễn Thanh A cũng tạo điều kiện, không ngăn cản, do ông A không có yêu cầu nên bà không cấp dưỡng, khi nào ông A có yêu cầu bà sẽ cấp dưỡng theo quy định. Đối với cháu Nguyễn Thị Bảo Ch, sinh ngày 02/02/2009, hiện tại do bà đang chăm sóc trực tiếp nuôi dưỡng, nên bà yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Ch, không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con.
Bị đơn ông Nguyễn Thanh A vắng mặt tại phiên tòa nên không thể hiện ý kiến đối với vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật bên tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thanh A. Giữa bà Nguyễn Thị Bạch H và ông Nguyễn Thanh A chung sống với nhau có đăng ký kết hôn theo qui định của Luật hôn nhân và gia đình nên xem là hôn nhân hợp pháp. Bị đơn có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường Thới An, quận Ô Môn, Tp Cần Thơ nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp ly hôn, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Ô Môn theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng:
Tòa án đã tiến hành triệu tập bị đơn ông Nguyễn Thanh A tham gia phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử.
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai về việc đưa vụ án ra xét xử nhưng ông Nguyễn Thanh A vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Quá trình giải quyết vụ án bà H trình bày sau khi đăng ký kết hôn, bà và ông Nguyễn Thanh A chung sống với nhau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, chủ yếu do ông Nguyễn Thanh A không chăm lo cho cuộc sống gia đình, dẫn đến vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Sau đó bà và ông Nguyễn Thanh A đã không sống chung từ đầu năm 2023 đến nay.
Hội đồng xét xử xét thấy: Theo quy định tại Điều 17; Điều 19; Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình; Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” nhưng theo lời trình bày của bà H thì từ khi vợ chồng không sống chung tới nay, ông Nguyễn Thanh A không đến thăm hỏi, hay có ý muốn hàn gắn lại tình cảm vợ chông. Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với ông Nguyễn Thanh A nhằm hòa giải, tạo điều kiện để ông bà hàn gắn tình cảm với nhau nhưng ông Nguyễn Thanh A vẫn vắng mặt không lý do, thể hiện ông không thật sự muốn hàn gắn tình cảm với bà H.
Xét trên thực tế bà H và ông Nguyễn Thanh A đã sống ly thân, từ lâu không còn sự quan tâm, thăm hỏi với nhau, cho thấy vợ chồng có sự bỏ mặt nhau, muốn sống ra sao thì sống, mặc dù vợ chồng có thời gian dài ly thân nhưng vẫn không thể tiếp tục đời sống hôn nhân. Nhận thấy, tình trạng vợ chồng giữa bà H và ông Nguyễn Thanh A đã rạn nứt, hôn nhân đã chấm dứt trên thực tế; đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu tiếp tục cũng không mang lại hạnh phúc cho bà H và ông Nguyễn Thanh A. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bạch H.
Về con chung:
Qua lời trình bày của bà H thấy rằng hiện con chung là cháu Nguyễn Vũ Nguyên, sinh ngày 27/3/2012 đang sinh sống cùng ông Nguyễn Thanh A, việc sinh hoạt và học tập của cháu Nguyên là do ông Nguyễn Thanh A thực hiện. Bên cạnh, ông Nguyễn Thanh A không đến tham gia phiên tòa nên không có ý kiến thừa nhận hay phản đối với lời trình bày của bà H. Đông thời việc bà H trình bày hiện đang nuôi dưỡng cháu Ch, việc chăm sóc cháu Ch là do bà thực hiện nên bà yêu cầu được nuôi cháu Ch, không yêu cầu ông A cấp dưỡng. Nên căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử ghi nhận lời trình bày của bà H. Nhận thấy, việc giao cháu Nguyên cho ông Nguyễn Thanh A trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Ch cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng sẽ đảm bảo được cho 02 cháu về việc phát triển thể chất lẫn tinh thần, đảm bảo không làm xáo trộn cuộc sống của 02 cháu nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của bà H.
Song, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con cái (con chung) là thiêng liêng nên người không trực tiếp nuôi con (bà H, ông A) có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
Do ông Nguyễn Thanh A vắng mặt tại phiên toà, không có ý kiến trình bày về vấn đề cấp dưỡng nuôi con của bà H nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Do vụ án xét xử vắng mặt bị đơn nên chỉ ghi nhận ý kiến của nguyên đơn về việc không có tài sản chung và không có nợ chung. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.
Về án phí: Áp dụng Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2017/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bạch H phải chịu theo quy định của pháp luật về án phí ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 207, điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bạch H.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bạch H được ly hôn với ông Nguyễn Thanh A.
- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Vũ Nguyên, sinh năm 2012 cho ông Nguyễn Thanh A trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi. Giao con chung tên Nguyễn Thị Bảo Ch, sinh năm 2009 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi.
Bà H, ông A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Ông Nguyễn Thanh A, bà Nguyễn Thị Bạch H cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Bạch H cho rằng không có, nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Bạch H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003851 ngày 24/02/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn, TP. Cần Thơ thành án phí.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định) để yêu cầu Tòa án Nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
* Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
| - VKSND TPCT; - VKSND Q. Ô Môn; - Chi cục THADS Q. Ô Môn; - UBND phường Thới An, Ô Môn; - Lưu. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thanh Thái |