- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Ngọc L phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Ngọc L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt tù; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢỚNG HOÁ TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2022/HS-ST Ngày: 31-8- 2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢỚNG HOÁ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Huy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Văn Toàn
Ông Lê Thanh Tùng
- Thư ký phiên toà: Ông Đinh Đức Thiện – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2022, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2022/TLST-HS ngày 23/6/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2022/QĐXXST-QĐ ngày 17 tháng 8 năm 2022, đối với bị cáo:
Võ Ngọc L, sinh năm 1995 tại huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 9, thôn T 2, thị trấn T, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam; Nơi ở hiện nay: Thôn H, xã Cam Nghĩa, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Không nghề; Trình độ học vấn: Lớp 07/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Thanh S, sinh năm 1974 và bà Hoàng Thị T, sinh năm 1976; Tiền án, có 03 tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2020/HSST ngày 08/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị xử phạt bị cáo 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/9/2021); Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2016/HSST ngày 10/3/2016 của Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”; Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 147/2016/HSST ngày 26/7/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt của 02 Bản án là 36 tháng tù (chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/10/2018); Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị ra Quyết định khởi tố bị can số 03/QĐ-ĐCSHS-KTMT ngày 30/12/2021 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
- Bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị ra Quyết định khởi tố bị can số 09/QĐ-CQĐT ngày 12/01/2022 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/12/2021 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị trong một vụ án khác; có mặt.
- Bị hại:Anh Trần Hữu N1, sinh năm 1991; nơi cư trú: Khóm V, thị trấn L, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Anh Hồ Văn T2, sinh năm 1995; nơi cư trú: Khóm K, thị trấn L, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
- Những người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
+ Chị Hồ Thị N2, sinh năm 1991; nơi cư trú: Khóm K, thị trấn L, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 23/12/2021, Võ Ngọc L đón xe khách từ huyện Cam Lộ lên thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, L đi bộ ra đường Quốc Lộ 9 để đón xe khác về lại thị trấn Cam Lộ, khi đi ngang qua Gara sửa chữa ô tô thuộc khóm Tây Chín, thị trấn Lao Bảo thì L nhìn thấy chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 74H1-300.76, nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu sơn: đỏ, đen, bạc, số khung RLHJA3925MY220426, số máy JA39E2339380 của anh Trần Hữu N1 để ở hành lang đường Quốc lộ 9, chìa khóa đang cắm ở ổ khóa điện nên L nảy sinh ý định trộm cắp để bán lấy tiền tiêu xài. Quan sát xung quanh không có người, L đi đến và mở khóa xe mô tô rồi điều khiển xe chạy đến khu vực nghĩa địa thuộc khóm Tây Chín, thị trấn Lao Bảo, tháo biển số xe bỏ vào trong cốp rồi điều khiển xe đến khóm Ka Tăng, thị trấn Lao Bảo bán cho anh Hồ Văn T2 với giá 9.000.000 đồng, số tiền có được do bán xe L đã tiêu xài hết. Lúc mua xe, anh T2 hỏi nguồn gốc thì L trả lời “Xe máy của tau, xe không có giấy tờ, không sử dụng nữa nên bán”. Sau khi mua, anh T2 kiểm tra xe thì thấy trong cốp xe có Biển kiểm soát 74H1-300.76 nên anh T2 đã vứt biển số này xuống dưới sàn nhà của mình. Khoảng 18 giờ cùng ngày, anh T2 điều khiển xe mô tô chạy theo đường tiểu ngạch sang chợ Karôn, thuộc huyện Sê Pôn, tỉnh SaVanNaKhet nước CHDCND Lào và bán cho một người đàn ông không quen biết với giá 9.800.000 đồng. Quá trình điều tra, vợ của anh T2 là chị Hồ Thị N2 đã giao nộp Biển kiểm soát 74H1-300.76 cho cơ quan điều tra.
Kết luận định tài sản số 03/BKLĐG ngày 05/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hướng Hóa kết luận: 01 xe mô tô Biển kiểm soát 74H1-300.76, nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu sơn: đỏ, đen, bạc, số khung RLHJA3925MY220426, số máy JA39E2339380 đã qua sử dụng có trị giá 18.000.000 đồng.
Về vật chứng:
- Quá trình điều tra đã tạm giữ và trả lại cho anh Trần Hữu N1 01 Biển kiểm soát 74H1-300.76
- Đối với 01 xe mô tô Biển kiểm soát 74H1-300.76, nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu sơn: đỏ, đen, bạc, số khung RLHJA3925MY220426, số máy JA39E2339380, Cơ quan điều tra không thu giữ được vật chứng.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Hữu N1 yêu cầu bị cáo bồi thường trị giá chiếc xe mô tô số tiền 18.000.000 đồng, bị cáo Võ Ngọc L không có ý kiến gì về việc định giá tài sản, đồng ý bồi thường cho anh Trần Hữu N1.
Bản cáo trạng số: 36/CT-VKSHH ngày 21 tháng 6 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Võ Ngọc L về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Võ Ngọc L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Võ Ngọc L từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự; buộc bị cáo Võ Ngọc L phải bồi thường cho cho anh Trần Hữu N1 trị giá chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 74H1-300.76, nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu sơn: đỏ, đen, bạc, số khung RLHJA3925MY220426, số máy JA39E2339380, xe đã qua sử dụng trị giá 18.000.000 đồng.
Truy thu buộc anh Hồ Văn T2 phải nộp ngân sách nhà nước số tiền 800.000 đồng.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Võ Ngọc L phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 900.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo Võ Ngọc L đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa truy tố, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ý kiến của bị hại: Anh Trần Hữu N1 yêu cầu bị cáo bồi thường trị giá chiếc xe mô tô số tiền 18.000.000 đồng.
Bị cáo Võ Ngọc L đồng ý bồi thường cho anh Trần Hữu N1 trị giá chiếc xe mô tô số tiền 18.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hướng Hóa, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; bị hại và người có quyền lợi, N1 vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi bị truy tố: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, hoàn toàn phù hợp với kết quả điều tra và các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử khẳng định:
Ngày 23/12/2021, lợi dụng việc quản lý tài sản sơ hở của anh Trần Hữu N1, bị cáo Võ Ngọc L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Trần Hữu N1 01 chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 74H1-300.76, nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu sơn: đỏ, đen, bạc, số khung RLHJA3925MY220426, số máy JA39E2339380, xe đã qua sử dụng có trị giá 18.000.000 đồng. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2020/HSST ngày 08/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị đã xử phạt bị cáo Võ Ngọc L 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và đã xác định bị cáo “Tái phạm”, (chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 11/9/2021), đến ngày 23/12/2021 bị cáo lại có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô của anh Trần Hữu N1 trị giá 18.000.000đồng, bị cáo phạm tội khi chưa được xóa án tích. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung là “Tái phạm nguy hiểm” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
. Xét tính chất, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo Võ Ngọc L đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tính tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của anh Trần Hữu N1, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần phạm tội nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt tù có T2 hạn và buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ một thời gian để giáo dục bị cáo.
Bị cáo Võ Ngọc L hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị trong một vụ án khác từ ngày 30/12/2021 đến nay. Xét thấy, Hội đồng xét xử cần ban hành Quyết định tam giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án hình sự.
. Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại anh Trần Hữu N1 yêu cầu bị cáo Võ Ngọc L bồi thường trị giá chiếc xe mô tô theo Kết luận định tài sản số 03/BKLĐG ngày 05/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hướng Hóa là 18.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại cho anh Trần Hữu N1. Xét thấy, thấy yêu cầu bồi thường thiệt hại của anh N1 là có căn cứ. Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 468, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho anh Trần Hữu N1 trị giá chiếc xe mô tô số tiền 18.000.000đồng.
. Về xử lý vật chứng:
- Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hướng Hóa đã tạm giữ và trả lại cho anh Trần Hữu N1 01 Biển kiểm soát 74H1-300.76 là đúng quy định pháp luật.
. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Võ Ngọc L phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 900.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
. Các vấn đề khác:
Khi bị cáo Võ Ngọc L bán cho anh Hồ Văn T2 chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 74H1-300.76, nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu sơn: đỏ, đen, bạc, số khung RLHJA3925MY220426, số máy JA39E2339380 nhưng anh T2 không biết là tài sản do bị cáo trộm cắp mà có nên không xử lý trách nhiệm hình sự là đúng quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 468, 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Tuyên bố bị cáo Võ Ngọc L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Võ Ngọc L 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt giam thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự:
- Buộc bị cáo Võ Ngọc L phải bồi thường cho anh Trần Hữu N1 trị giá chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu sơn: đỏ, đen, bạc, số khung RLHJA3925MY220426, số máy JA39E2339380 số tiền 18.000.000đồng.
- Buộc anh Hồ Văn T2 phải nộp ngân sách nhà nước số tiền 800.000 đồng.
“Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự”.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Võ Ngọc L phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 900.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
4. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND tỉnh Quảng Trị; - VKSND huyện Hướng Hóa; - Công an huyện Hướng Hóa; - Cơ quan THAHS Công an huyện Hướng Hóa; - Chi cục THA.DS huyện Hướng Hóa; - UBND xã Cam Nghĩa, huyện Cam Lộ. - Bị cáo; bị hại; Người CQLNVLQ đến vụ án; - Hồ sơ Thi hành án hình sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Huy |