vanban.org

Bản án 45/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Thốt Nốt, TP. Cần Thơ Tuyên án 30/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THỐT NỐT
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2022/HS-ST
Ngày: 30/6/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Việt Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thúy Kiên

2. Bà Thái Ánh Trinh

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 14/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2022/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2022 và Thông báo mở lại phiên tòa số 133/2022/TB-TA ngày 14 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:

Lê Công M - sinh năm 1999; nơi đăng ký thường trú: khu vực Tân Phước 1, phường Thuận Hưng, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: lớp 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Ngọc Th, sinh năm 1978 và bà Bùi Kim Duyên, sinh năm 1977; có 02 người em ruột tên Lê Ngọc Điền, sinh năm 2004 và Lê Xuân Hoa, sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại. (vắng mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Nguyễn Hữu Nh – sinh năm 1996 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu vực Bắc Vàng, phường Thới Long, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị M – sinh năm 1964 (vắng mặt);

Địa chỉ: Khu vực Bắc Vàng, phường Thới Long, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

Ông Lê Ngọc Th – sinh năm 1978 (vắng mặt);

Bà Bùi Kim D – sinh năm 1977 (vắng mặt);

Cùng địa chỉ: Khu vực Tân Phước 1, phường Thuận Hưng, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

Anh Hồ Hoàng Nh – sinh năm 2003 (có mặt);

Địa chỉ: Ấp Thạnh Lộc 1, xã Trung Thạnh, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 20 phút ngày 22 tháng 3 năm 2021, Lê Công M đi bộ đến nhà của anh Tô Hoàng Anh thuộc khu vực Qui Thạnh 2, phường Trung Kiên, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ chơi. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày thì Nguyễn Hữu Nh điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 65E1 – 231.31 đến nhà của Hoàng Anh, Nh đậu xe cạnh vách nhà, khóa cổ xe, để chìa khóa xe trên bàn gần bếp ăn của Hoàng Anh rồi đi tắm. Lợi dụng lúc Nh đang tắm, M lấy chìa khóa xe và mở khóa xe của Nh chạy đi, dự tính đem xe của Nh đi cầm để lấy tiền tiêu xài. Sau đó M nhờ Hồ Hoàng Nh là bạn của M dẫn đi cầm và nói với Nh đây là xe của anh M nên Nh đồng đi cùng M đi cầm xe. M và Nh điều khiển xe đến tiệm cầm đồ T ở phường Mỹ Thạnh, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang cầm xe được 4.000.000 đồng, sau đó cả hai đi xe ôm về phường Thốt Nốt, M trả tiền nhà trọ cho Nh hết 400.000 đồng.

Đến ngày 25 tháng 3 năm 2021, Hồ Hoàng Nh rủ Đoàn Ngọc T C đi chuộc lại xe xe mô tô biển kiểm soát 65E1 – 231.31 mà M và Nh đã cầm trước đó. Cường điều khiển xe mô tô biểm kiểm soát 65F1-318.03 của Cường chở Nh đến tiệm cầm đồ T, Cường cầm xe mô tô 65F1-318.03 được 5.5000.000 đồng và chuộc xe mô tô biển kiểm soát 65E1 – 231.31 với số tiền 4.800.000 đồng. Cả hai tiếp tục điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 65E1 – 231.31 đến huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (không nhớ địa chỉ) cầm xe mô tô được số tiền 7.000.000 đồng, sau đó Cường trở lại tiệm cầm đồ T chuộc xe mô tô của Cường hết 5.650.000 đồng và cả hai về Thốt Nốt.

Đến ngày 29 tháng 3 năm 2021, ông Lê Ngọc Th là của Lê Công M đã chuộc lại xe mô tô biển kiểm soát 65E1 – 231.31 và giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra xử lý theo quy định.

Tang vật thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh trắng, biển kiểm soát 65E1 – 231.31 đã qua sử dụng.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 24/BKL-HĐĐTS ngày 22 tháng 4 năm 2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận Thốt Nốt kết luận “01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh trắng, biển kiểm soát 65E1 – 231.31 đã qua sử dụng có trị giá 14.000.000 đồng.

Đối với Lê Công M sau khi khởi tố bị can, M đã bỏ đi khỏi địa phương. Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã, đến ngày 15 tháng 12 năm 2021 M đến Cơ quan điều tra Công an quận Thốt Nốt đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi.

Cơ quan điều tra đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh trắng, biển kiểm soát 65E1 – 231.31 cho bà Nguyễn Thị Mịt là mẹ của Nguyễn Hữu Nh.

Tại Cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 11 tháng 3 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Lê Công M về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án tại tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, tòa án đã mở phiên tòa xét xử vụ án theo qui định pháp luật, tuy nhiên vào ngày xét xử 12 tháng 4 năm 2022 bị cáo vắng mặt không rõ lý do. Qua xác M, được biết bị cáo đã bỏ đi khỏi địa phương nên Tòa án yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thốt Nốt truy nã bị cáo theo quy định pháp luật, tuy nhiên đã hết thời hạn luật định mà vẫn chưa bắt được bị cáo nên tòa án tiếp tục đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Lê Công M, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Ngọc Th, bà Bùi Kim Duyên, bà Nguyễn Thị Mịt vắng mặt không rõ lý do.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hồ Hoàng Nh xác định hoàn toàn không biết xe mô tô biển kiểm soát 65E1 – 231.31 là do bị cáo trộm mà có. Đồng thời Nh tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi từ việc cầm xe mô tô biển kiểm soát 65E1 – 231.31 là 2.050.000 đồng.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên nội dung truy tố, đồng thời phát biểu quan điểm luận tội phân tích hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự... Trên cơ sở đó đề nghị: Tuyên bố bị cáo Lê Công M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt Lê Công M từ 06 tháng đến 09 tháng tù giam. Miễn hình phạt bổ sung do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:

+ Công nhận cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thốt Nốt trả lại cho bà Nguyễn Thị Mịt 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh trắng, biển kiểm soát 65E1 – 231.31 đã qua sử dụng.

- Công nhận Hồ Hoàng Nh tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi từ việc cầm xe mô tô biển kiểm soát 65E1 – 231.31 là 2.050.000 đồng.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo M phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an quận Thốt Nốt, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Xét, tại phiên tòa có bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do, nhưng do trong quá trình điều tra đã thu thập được lời khai nên trường hợp cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lại lời khai. Do đó, việc vắng mặt của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án theo quy định tại các Điều 290, 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Trong điều tra và qua xét hỏi tại phiên toà ngày 05/4/2022, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra như lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và vật chứng thu giữ được. Như vậy, có cơ sở để xác định vào ngày 22 tháng 3 năm 2021, bị cáo Lê Công M đến nhà của Tô Hoàng Anh ở phường Trung Kiên, quận Thốt Nốt, khi bị hại Nguyễn Hữu Nh chạy xe mô tô đến nhà Hoàng Anh thì M đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của Nh để chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh trắng, biển kiểm soát 65E1 – 231.31 sau đó đem đi cầm để lấy tiền tiêu xài. Theo Bản kết luận định giá tài sản số 24/BKL-HĐĐTS ngày 22 tháng 4 năm 2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận Thốt Nốt kết luận “01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh trắng, biển kiểm soát 65E1 – 231.31 đã qua sử dụng có trị giá 14.000.000 đồng”. Hành vi mà bị cáo M thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Lê Công M về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.

Ngoài ra tại phiên toà ngày 05/4/2022, bị cáo còn cho rằng Hồ Hoàng Nh biết được nguồn gốc xe do bị cáo trộm nhưng vẫn giúp bị cáo cầm xe. Tòa án đã có công văn đề nghị Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt làm rõ vấn đề này, tuy nhiên qua đối chất giữa bị cáo và Hồ Hoàng Nh không chứng M được Nh biết nguồn gốc xe mô tô biển kiểm soát 65E1 – 231.31 là do trộm cắp mà có đồng thời bị cáo cũng xác định Nh cũng không biết xe là do bị cáo trộm nên việc xác định Hồ Hoàng Nh là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là phù hợp.

[4] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho người dân. Xét, bị cáo là người khỏe mạnh, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo hoàn toàn nhận thức được việc làm của bản thân là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý, nhưng chỉ vì để có tiền tiêu xài cá nhân mà không phải bỏ nhiều công sức lao động nên bị cáo đã lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của người khác để chiếm đoạt đem cầm cố lấy tiền tiêu xài, ngoài ra bị cáo còn cùng bạn bè tụ tập sử dụng trái phép chất ma túy. Sau khi phạm tội, bị cáo bỏ đi khỏi địa phương gây khó khăn trong quá trình điều tra, đến khi vụ án đưa ra xét xử bị cáo lại tiếp tục bỏ đi khỏi địa phương, điều này cho thấy thái độ xem thường pháp luật của bị cáo.

Do đó, cần thiết xử lý nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo cũng như đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải; gia đình bị cáo đã khắc phục thiệt hại cho bị hại nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

[7] Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử thống nhất đề nghị của đại diện Viện kiểm sát miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự:

Gia đình bị hại đã nhận lại xe mô tô biển kiểm soát 65E1 – 231.31 và không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Ông Lê Ngọc Th là người chuộc xe mô tô biển kiểm soát 65E1 – 231.31 để khắc phục hậu quả cho bị cáo, quá trình điều tra ông Th trình bày tự nguyện khắc phục cho bị cáo nên không yêu cầu trả lại số tiền này, tại phiên tòa ông Th vắng mặt và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9] Về xử lý vật chứng và thu lợi bất chính:

+ Đối với xe mô tô biển kiểm soát 65E1-231.31 là vật chứng trong vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại cho gia đình bị hại có đại diện là bà Nguyễn Thị Mịt đã nhận lại xe, nghĩ nên công nhận.

+ Quá trình điều tra đã chứng M được bị cáo Lê Công M cầm xe mô tô biển kiểm soát 65E1-231.31 được 4.000.000 đồng, đây là số tiền thu lợi bất chính từ việc cầm cố tài sản phạm tội mà có nghĩ nên buộc bị cáo nộp sung vào ngân sách nhà nước; anh Hồ Hoàng Nh cầm xe mô tô biển kiểm soát 65E1-231.31 tại huyện Thoại Sơn, An Giang được 7.000.000 đồng, sau khi khấu trừ chi phí Nh được hưởng lợi 2.050.000 đồng, tại phiên tòa anh Nh tự nguyện nộp lại số tiền này, Hội đồng xét xử nghĩ nên công nhận sự tự nguyện này của anh Nh.

[10] Các vấn đề khác:

Đối với ông Nguyễn Văn T là chủ tiệm cầm đồ T có hành vi nhận cầm xe mô tô biển kiểm soát 65E1 – 231.31 mà không có giấy tờ nên đã bị xử phạt vi phạm hành chính. Quá trình điều tra không chứng M được số tiền thu lợi bất chính từ hành vi này nên không đề cập xử lý.

Đối với người nhận cầm xe mô tô biển kiểm soát 65E1-231.31 ở Thoại Sơn, An Giang kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ nhân thân để xử lý theo quy định pháp luật.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 290 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

* Tuyên bố: Bị cáo Lê Công M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Công M 09 (chín) tháng tù.

Thời gian chấp hành hình phạt được trừ vào ngày bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/12/2021 đến ngày 18/12/2021.

Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.

* Về xử lý vật chứng và thu lợi bất chính: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Công nhận Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Thốt Nốt đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh trắng, biển kiểm soát 65E1-231.31 cho gia đình bị hại.

Buộc bị cáo Lê Công M nộp lại số tiền 4.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước.

Ghi nhận sự tự nguyện của anh Hồ Hoàng Nh nộp lại số tiền 2.050.000 đồng sung ngân sách nhà nước.

* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Công M phải nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm tại Chi Cục Thi hành án Dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

* Về quyền kháng cáo: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

* Về quyền, nghĩa vụ và thời hạn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ