- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Mạnh Th + đp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Hoàng Mạnh Th 16 (Mười sáu) tháng tù
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN-TP.HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2022/HS-ST Ngày 20/4/2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN-TP.HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Như Ý.
Các Hội thẩm nhân dân
: Ông Nguyễn Văn Vĩ;
Ông Đinh Trọng Phụ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Ngọc Lâm -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 186/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 192/2021/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Hoàng Mạnh Th, sinh năm 1998 tại Hà Nội. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã Đức H, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá : Lớp 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Mạnh C (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1965; Vợ: Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 2002, có 02 con (lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2021). Tiền án: Không, tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số I – Công an thành phố Hà Nội từ ngày 31/5/2021 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Văn Tr, sinh ngày 17/3/2002 tại Hà Nội. Nơi ĐKHKTT: Thôn Ch, xã Đức H, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội; Chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã Kim L, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá : Lớp 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1974 và bà Lê Thị T, sinh năm 1979; Vợ con chưa có. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam số I – Công an thành phố Hà Nội từ ngày 31/5/2021 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1998 tại Hà Nội. Nơi ĐKHKTT: Thôn Chùa, xã Đức Hòa, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1974 và bà Lê Thị T, sinh năm 1979; Vợ: Đinh Thị Q, sinh năm 2000, có 02 con (lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2020). Tiền án: Không, tiền sự: Ngày 10/10/2017 bị Công an huyện Sóc Sơn xử phạt hành chính về hành vi Hủy hoại tài sản. Do Công an huyện Sóc Sơn không có đôn đốc việc chấp hành, đến nay Kh vẫn chưa chấp hành. Hiện đã hết thời hiệu thi hành, xác định lỗi do cơ quan Nhà nước nên tiền sự này của Kh đã được xóa; Nhân thân: Không; Bị cáo hiện đang cai nghiện tại cơ sở cai nghiện ma túy số 6, Hà Nội, có mặt tại phiên tòa.
4. Họ và tên: Đào Văn H, sinh năm 1997 tại Hà Nội. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Ch, xã Đức H, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đào Xuân Ch, sinh năm 1952 và bà Đỗ Thị B, sinh năm 1957; Vợ con chưa có. Tiền án: Không, tiền sự: Ngày 30/7/2021 bị Công an huyện Sóc Sơn ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản bằng hình thức phạt tiền 1.500.000đ, Ngày 22/10/2021 đã chấp hành xong, hiện chưa được xóa; Bị cáo hiện đang bị tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
5. Họ và tên: Nguyễn Quý H, sinh năm 1994 tại Hà Nội. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn X, xã Kim L, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá : Lớp 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Quý C, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1964; Vợ con chưa có. Tiền án: Bị cáo có 02 tiền án: + Bản án hình sự sơ thẩm số 83 ngày 28/6/2016, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn –TP Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 28/6/2016 đã nộp xong án phí, hiện chưa chấp hành xong phần bồi thường dân sự do bị hại chưa có đơn yêu cầu thi hành án (đến ngày 28/6/2021 mới hết thời hiệu thi hành đối với khoản bồi thường dân sự). Hiện án chưa được xóa, lần phạm tội này của bị can là tái phạm.
+ Bản án hình sự sơ thẩm số 134/2021/HSST ngày 28/9/2021, Tòa án nhân dân huyện Yên phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 20 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (bị can phạm tội ngày 17/5/2021). Hiện chưa chấp hành xong bản án, án chưa được xóa.
Tiền sự: Bị cáo có 02 tiền sự: + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 235 ngày 08/8/2018, Công an huyện Sóc Sơn xử phạt về hành vi xâm phạm sức khỏe người khác, phạt tiền 2.500.000đ. Ngày 22/8/2018 đã chấp hành xong, hiện đã được xóa.
+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 364 ngày 12/7/2019, Công an huyện Sóc Sơn xử phạt về hành vi ném gạch vào nhà người khác, phạt tiền 750.000đ. Ngày 12/7/2020 Công an huyện Sóc Sơn vẫn đôn đốc Hà chấp hành nhưng đến nay vân chưa chấp hành xong, hiện chưa được xóa.
Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại giam công an tỉnh Bắc Ninh trong vụ án khác, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: + Anh Đàm Sỹ Đ, sinh năm 1977. Có mặt.
Địa chỉ; Thôn X, xã Tân M, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội.
+ Anh Ngô Văn L, sinh năm 1980. Có mặt.
Địa chỉ: Số nhà 35 đường Khuông V, tổ 3, thị trấn S, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 30/4/2021, Nguyễn Văn Tr mượn xe máy Wave màu xanh - trắng của anh Lê Văn Th để đi làm. Sau đó, Tr đi xe máy đến quán nét nhà anh D ở thôn Đ, xã Đức H, huyện Sóc Sơn gặp Hoàng Mạnh Th. Do không có tiền tiêu nên cả hai rủ nhau đi trộm cắp xe máy, Th đem theo sẵn 01 bộ vam phá khóa. Tr điều khiển xe máy chở Th ngồi sau, khi đến địa phận thôn X, xã Tân M, huyện Sóc Sơn thì phát hiện 01 xe máy hiệu Honda Wave @, BKS: 29S6 – 596.58 màu cam-đen-bạc của anh Đàm Sỹ Đ dựng ở sát ven đường. Quan sát thấy không có người, Th bảo Tr dừng xe cách chiếc xe máy của anh Đ khoảng 05m. Th xuống xe đi bộ đến thấy xe có khóa cổ, không khóa càng. Th tay phải cầm tay công, tay trái lấy vam phá khóa từ túi quần ra cắm vam vào ổ khóa điện, sau đó dùng hai tay vặn phá khóa điện chiếc xe máy, rồi lên xe nổ máy đi về phía thôn X, xã Tân M, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Tr điều khiển xe máy Wave đi sau, về đến cánh đồng thôn X, xã Kim L. Th để xe máy tại cánh đồng bảo Tr ở lại trông xe vừa trộm cắp được, Th mượn xe máy của Tr điều khiển vào nhà Nguyễn Quý H ở thôn X, xã Kim L, huyện Sóc Sơn giao dịch bán xe cho H. H biết là xe do trộm cắp mà có nhưng H vẫn đồng ý và ngồi lên xe Th chở ra cánh đồng. H thỏa thuận sẽ trả 4.000.0000đ và hẹn Th 01 tiếng sau đến lấy tiền. Sau đó Th, Tr đi về, Tr đem xe máy về trả cho anh Th. H đem chiếc xe máy cất giấu tại cánh đồng thôn X, xã Kim L, huyện Sóc Sơn. Đến chiều H thấy có người đi tìm xe máy, H nghĩ xe máy có cài định vị nên H gọi điện bảo xe có định vị nên không trả tiền cho Th. Hai ngày sau H ra chỗ cất giấu xe thì không thấy xe máy đâu nữa.
Tại kết luận định giá tài sản số 85/KL-HĐ ngày 19/5/2021, của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Sóc Sơn kết luận: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu cam đen bạc, BKS: 29S6 – 596.58 có giá là 10.557.000đ (mười triệu năm trăm năm bảy ngàn đồng).
Qua điều tra mở rộng Cơ quan điều tra còn làm rõ: Tối ngày 07/2/2021 Hoàng Mạnh Th, Nguyễn Văn Kh và Đào Văn H sử dụng chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Air Blade, màu đỏ đen, biển kiểm soát 29S6 - 416.10 do H điều khiển và đi chơi tại khu vực thị trấn S, huyện Sóc Sơn. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 08/2/2021 trên đường đi về thì phát hiện trước cửa nhà anh Ngô Văn L, sinh 1960, đường Khuông Việt, tổ 3, thị trấn S, huyện Sóc Sơn có để một chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, không có người trông giữ. Th bảo H dừng xe, Th xuống xe, H điều khiển xe máy chở Kh lên đoạn ngã tư đường Khuông Việt giáp với bể bơi The Light, đứng đợi Th. Th tiến lại gần chiếc xe máy Honda Dream, sau đó dắt chiếc xe máy lùi lại ra đường rồi đẩy lên vị trí H và Kh đã đợi sẵn. Kh điều khiển xe máy Honda Air Blade chở H và dùng chân đẩy Th điều khiển xe máy Honda Dream vừa trộm cắp được. Cả ba đẩy xe máy về nhà của mẹ Kh tại thôn K, xã Kim L, huyện Sóc Sơn và cất giấu tại vườn chuối của gia đình, sau đó H chở Th và Kh về nhà. Đến khoảng 08 giờ sáng ngày 08/02/2021, Kh trực tiếp gọi điện cho Nguyễn Quý H nói rõ cho H biết xe máy là do Kh cùng đồng phạm trộm cắp mà có. H đồng ý mua xe và bảo Kh mang xe ra cánh đồng đầu thôn X, xã Kim L, huyện Sóc Sơn đợi H. Kh, H, Th mang xe ra cánh đồng đầu thôn X, xã Kim L, huyện Sóc Sơn giao cho H. Th và H đứng đợi gần đó còn Kh dắt xe ra giao cho H, H thỏa thuận giá tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) và cắt lại 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) nói là tiền công mang xe đi cắm cho Kh. Kh nhận số tiền 2.800.000 đồng (hai triệu tám trăm nghìn đồng) từ H và cầm ra đưa cho Th, Th đã cầm số tiền trên cùng Kh và H đi uống bia hết. Sau khi mua được chiếc xe H sử dụng khoảng 03 ngày, rồi bán cho một người không quen biết với giá 3.300.000đ (Ba triệu ba trăm nghìn đồng).
Tại kết luận định giá tài sản số Số 104 ngày 02/7/2021 của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Sóc Sơn kết luận: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream, BKS 29H2 -8777 màu nâu có giá là 3.380.000đ (ba triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng).
Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung vụ án đã được tóm tắt trên. Các bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Người bị hại anh Đàm Sỹ Đ trình bày: Khoảng 14 giờ ngày 30/4/2021 anh đi một chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS 29S6 – 596.58 từ nhà đến nhà anh Th để rủ anh Th đi ăn cỗ cùng. Khi đến nhà anh Th anh để xe ở trước cổng nhà anh Th gần trạm biến thế thôn X, xe có khóa cổ, không khóa càng rồi anh đi vào trong nhà anh Th. Khoảng 05 phút sau anh quay ra thì phát hiện chiếc xe máy của anh đã bị mất và trình báo công an. Đến nay anh vẫn chưa nhận lại được chiếc xe bị mất, anh đề nghị các bị cáo bồi thường cho anh theo quy định của pháp luật.
Người bị hại anh Ngô Văn L trình bày: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 08/02/2021 anh điều khiển xe ô tô để lùi xe vào nhà thì anh có dắt 01 xe đạp để ở cửa nhà bên trái và 01 xe máy Honda Dream màu nâu BKS 29H2 – 8777 để ở bên phải cửa nhà, cách cửa nhà khoảng 02 mét. Sau đó anh điều khiển xe ô tô vào trong nhà để cất, khoảng 02 đến 03 phút sau anh quay ra để dắt xe máy và xe đạp vào cất thì phát hiện bị mất 01 chiếc xe máy. Sau khi bị mất xe do anh không tìm được giấy tờ xe nên đến tháng 6/2021 anh mới trình báo công an. Nay anh vẫn chưa nhận lại được chiếc xe đã mất, anh đề nghị các bị cáo bồi thường cho anh trị giá chiếc xe bị mất theo quy định của pháp luật.
Bản cáo trạng số 172/CT-VKS ngày 10/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố Hoàng Mạnh Th, Nguyễn Văn Tr, Nguyễn Văn Kh, Đào Văn H, về tội “ Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, Nguyễn Quý H về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại phiên tòa các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Hoàng Mạnh Th, Nguyễn Văn Tr, Nguyễn Văn Kh, Đào Văn H, về tội “ Trộm cắp tài sản” , Nguyễn Quý H về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 (thêm điểm b đối với Th, Kh, H); Điều 38 đối với Th, Tr, H, Điều 65 đối với Kh; Điều 47 Bộ luật Hình sự, thêm điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với Th và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Hoàng Mạnh Th mức án từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/5/2021.
Nguyễn Văn Tr mức án từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/5/2021.
Nguyễn Văn Kh mức án từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách từ 12 đến 18 tháng.
Đào Văn H mức án từ 06 đến 09 tháng . Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 323, Điều 38, điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 56 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Nguyễn Quý H mức án từ 18 đến 24 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 20 tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 83/2021/HSST ngày 28.9.2021 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong – tỉnh Bắc Ninh buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án từ 38 đến 44 tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày 20/5/2021.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về dân sự: Buộc bị cáo Hoàng Mạnh Th và Nguyễn Văn Tr có trách nhiệm bồi thường cho anh Đàm Sỹ Đ trị giá chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS 29S6 – 596.58 là 10.557.000đ, kỷ phần mỗi bị cáo bồi thường 5.278.500đ. Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Th đã nộp tiền bồi thường cho anh Đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn.
Buộc bị cáo Hoàng Mạnh Th, Nguyễn Văn Kh và Đào Văn H có trách nhiệm bồi thường cho anh Ngô Văn L trị giá chiếc xe máy Honda Dream BKS 29H2 – 8777 là 3.380.000đ, kỷ phần mỗi bị cáo bồi thường 1.127.000đ. Ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo Th, Kh, H đã bồi thường cho anh Ngô Văn L số tiền 1.127.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn BL số 0003883 ngày 25/11/2021.
Về tang vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 vam phá khóa và 01 tay công.
Truy thu của Nguyễn Quý H số tiền 500.000đ do phạm tội mà có.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Bị cáo Hoàng Mạnh Th, Nguyễn Văn Tr, Đào Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sóc Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Ngày 30/4/2021, tại xóm 5, thôn X, xã Tân M, huyện Sóc Sơn, Hà Nội, Hoàng Mạnh Th, Nguyễn Văn Tr đã lợi dụng sơ hở của anh Đàm Sỹ Đ, trộm cắp 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu cam - đen - bạc, BKS: 29S6 – 596.58 của anh Đ, trị giá là 10.557.000đ (mười triệu năm trăm năm bảy ngàn đồng)
Đêm ngày 07/02/2021 rạng sáng ngày 08/02/2021, Hoàng Mạnh Th, Nguyễn Văn Kh, Đào văn H đã lợi dụng sơ hở của gia đình anh Ngô Văn L ở đường Khuông Việt, tổ 3, thị trấn S, huyện Sóc Sơn, trộm cắp 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream, BKS: 29H2 -8777 màu nâu có giá là 3.380.000đ (ba triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng).
Nguyễn Quý H, biết rõ xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu cam - đen - bạc, BKS: 29S6 – 596.58 và xe máy nhãn hiệu Honda Dream, BKS: 29H2 -8777 do trộm cắp mà có nhưng vì mục đích tư lợi nên H vẫn mua xe của Th và Kh.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố các bị cáo Hoàng Mạnh Th, Nguyễn Văn Tr, Nguyễn Văn Kh, Đào Văn H về tội “ Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và Nguyễn Quý H về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, việc đưa các bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà Bộ luật hình sự đã quy định.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó cần cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Hoàng Mạnh Th, Nguyễn Văn Kh, Đào Văn H đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Đào Văn H, Nguyên Văn Kh và Nguyễn Văn Tr không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đối với bị cáo Hoàng Mạnh Th đã 02 lần thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản vào các ngày 08/02/2021 và 30/4/2021 nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Nguyễn Quý H đã 02 lần thực hiện việc mua xe do các bị cáo Th, Tr, Kh, H trộm cắp được mà có nhưng bị cáo vẫn mua nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Mặt khác tại Bản án số 83/HSST ngày 28/6/2016, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, Hà Nội xử phạt bị cáo 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 28/6/2016 đã nộp xong án phí, hiện chưa chấp hành xong phần bồi thường dân sự do bị hại chưa có đơn yêu cầu thi hành án đến ngày 28/6/2021 mới hết thời hiệu yêu cầu thi hành án đối với khoản bồi thường dân sự. Hiện án chưa được xóa nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Nguyễn Văn Kh có 01 tiền sự đã được xóa, Đào Văn H có 01 tiền sự chưa được xóa thể hiện các bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo Nguyễn Quý H có ông nội là liệt sỹ nên được áp dụng quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất vụ án, vai trò của các bị cáo tham gia trong vụ án nhận thấy các bị cáo thực hiện hành vi lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản để trộm cắp tài sản, các bị cáo thực hiện hành vi do bộc phát, không có sự phân công vai trò nên không phải là phạm tội có tổ chức. Xét hành vi của các bị cáo nhận thấy: Bị cáo Hoàng Mạnh Th tham gia cả 02 vụ trộm cắp tài sản nên giữ vai trò đầu vụ. Bị cáo Nguyễn Văn Kh đứng ra giao dịch mua bán xe với H nên giữ vai trò thứ hai. Các bị cáo Nguyễn Văn Tr, Đào Văn H chỉ đi cùng và cùng sử dụng số tiền trộm cắp được nên giữ vai trò thứ ba. Nguyễn Quý H thực hiện hành vi độc lập. Mặc dù các bị cáo phạm tội đồng phạm giản đơn nhưng các bị cáo lười lao động liên tiếp thực hiện 02 vụ trộm cắp trên địa bàn huyện Sóc Sơn, xâm phạm đến chế độ sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, đối với các bị cáo Hoàng Mạnh Th, Nguyễn Văn Tr, Đào Văn H và Nguyễn Quý H thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định mới có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội. Bị cáo Nguyễn Văn Kh phạm tội lần đầu, có 01 tiền sự đã được xóa, bị cáo tham gia với vai trò giúp sức cho các bị cáo khác phạm tội nên thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng có tác dụng cải tạo, giáo dục pháp luật trở thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173 và Điều 323 có quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập thấp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về dân sự: Đối với 02 chiếc xe máy do các bị cáo trộm cắp của anh Đàm Sỹ Đ và anh Ngô Văn L, quá trình điều tra không thu hồi được 02 chiếc xe trên. Quá trình điều tra anh Đ và anh L đề nghị các bị cáo bồi thường theo quy định của pháp luật. Xét thấy yêu cầu của anh Đ và anh L là phù hợp với quy định của pháp luật nên ghi nhận cần buộc các bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho anh Đ và anh L theo giá trị của Hội đồng định giá đã định giá. Cụ thể như sau: Buộc bị cáo Hoàng Mạnh Th và Nguyễn Văn Tr có trách nhiệm bồi thường cho anh Đàm Sỹ Đ trị giá chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS 29S6 – 596.58 là 10.557.000đ, kỷ phần mỗi bị cáo bồi thường 5.278.500đ. Ghi nhận sự tự nguyện của gia đình bị cáo Hoàng Mạnh Th nộp số tiền 5.278.000đ theo Biên lai thu số 0003890 ngày 03/02/2022. Buộc bị cáo Hoàng Mạnh Th, Nguyễn Văn Kh và Đào Văn H có trách nhiệm bồi thường cho anh Ngô Văn L trị giá chiếc xe máy Honda Dream BKS 29H2 – 8777 là 3.380.000đ, kỷ phần mỗi bị cáo bồi thường 1.127.000đ. Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Văn Kh đã bồi thường cho anh Ngô Văn L số tiền 1.127.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn BL số 0003883 ngày 25/11/2021. Bị cáo Hoàng Mạnh Th bồi thường cho anh Ngô Văn L số tiền 1.127.000đ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Sóc Sơn BL số 0003891 ngày 03/02/2021. Bị cáo Đào Văn H bồi thường cho anh Ngô Văn L số tiền 1.127.000đ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Sóc Sơn BL thu số 0003885 ngày 30/11/2021.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sóc Sơn có thu giữ 01 vam phá khóa và 01 tay công là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với Nguyễn Quý H khi bán xe cho Nguyễn Văn Kh thỏa thuận giá mua bán là 3.000.000đ nhưng H cắt lại 500.000đ tiền công mua xe. Xét thấy đây là tiền thu nhập bất hợp pháp nên cần truy thu để sung quỹ Nhà nước.
Đối với chiếc xe máy hiệu Honda Air Blade H sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản. Cơ quan điều tra đã làm rõ chủ sở hữu là chị Đào Thị Hòa Ch, chị Ch không biết H sử dụng vào việc phạm tội. Ngày 25/8/2021 Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị Ch là phù hợp.
. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Bị cáo Nguyễn Văn Tr phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Mạnh Th, Nguyễn Văn Tr, Nguyễn Văn Kh và Đào Văn H, khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Quý H; Điều 38 đối với các bị cáo Th, Tr, H, H, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo (thêm điểm b khoản 1 Điều 51 đối với bị cáo Th, Kh, H, Điều 65 đối với bị cáo Kh), Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Quý H, điểm g khoản 1 Điều 52 đối với bị cáo Hoàng Mạnh Th; điểm g, h Khoản 1 Điều 52 và Điều 56 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Quý H; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự (áp dụng Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn Kh); Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Hoàng Mạnh Th 16 (Mười sáu) tháng tù
về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày 30/5/2021.
Xử phạt Nguyễn Văn Tr mức án 10 (Mười) tháng 20 (hai mươi) ngày tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày 31/5/2021. Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo.
Xử phạt Nguyễn Văn Kh 07 (Bảy) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng.
Giao bị cáo Nguyễn Văn Kh cho UBND xã Đức Hòa – huyện Sóc Sơn – TP Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Xử phạt Đào Văn H 07 (Bảy) tháng về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn tù tính từ bắt bị cáo thi hành án.
Xử phạt Nguyễn Quý H 18 (Mười tám) tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Tổng hợp hình phạt 20 tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 83/2021/HSST ngày 28.9.2021 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong – tỉnh Bắc Ninh buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 38 (Ba mươi tám) tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày 20/5/2021.
Về dân sự: Buộc bị cáo Hoàng Mạnh Th và Nguyễn Văn Tr có trách nhiệm bồi thường cho anh Đàm Sỹ Đ trị giá chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS 29S6 – 596.58 là 10.557.000đ, kỷ phần mỗi bị cáo bồi thường 5.278.500đ. Ghi nhận sự tự nguyện của gia đình bị cáo Hoàng Mạnh Th nộp số tiền 5.278.000đ theo Biên lai thu số 0003890 ngày 03/02/2022.
Buộc bị cáo Hoàng Mạnh Th, Nguyễn Văn Kh và Đào Văn H có trách nhiệm bồi thường cho anh Ngô Văn L trị giá chiếc xe máy Honda Dream BKS 29H2 – 8777 là 3.380.000đ, kỷ phần mỗi bị cáo bồi thường 1.127.000đ. Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Văn Kh đã bồi thường cho anh Ngô Văn L số tiền 1.127.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn BL số 0003883 ngày 25/11/2021. Bị cáo Hoàng Mạnh Th bồi thường cho anh Ngô Văn L số tiền 1.127.000đ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Sóc Sơn BL số 0003891 ngày 03/02/2021. Bị cáo Đào Văn H bồi thường cho anh Ngô Văn L số tiền 1.127.000đ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Sóc Sơn BL thu số 0003885 ngày 30/11/2021.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự;
Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả và số tiền chưa thi hành án.
Về tang vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 vam phá khóa và 01 tay công.
(Tình trạng tang vật như biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sóc Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).
Truy thu của Nguyễn Quý H số tiền 500.000đ để sung quỹ Nhà nước.
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm cho Nhà nước. Bị cáo Nguyễn Văn Tr phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm các bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo.
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Sóc Sơn; - VKSDN TP. Hà Nội; - Công an huyện Sóc Sơn; - Tòa án nhân dân TP. Hà Nội; - THADS huyện Sóc Sơn; - Lưu: HS, VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Như Ý |