vanban.org

Bản án 45/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 31/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Áp dụng khoản 1 Điều 128, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Triệu Văn M 02 (hai) năm tù về tội “Vô ý làm chết người” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 31/8/2022). Giao bị cáo Triệu Văn M cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thác… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Văn M - phạm tội vô ý làm chết người (điều 128 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1- Áp dụng khoản 1 Điều 128, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2022/HS-ST
Ngày 31 - 8 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thái

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Tiến Chỉnh

Ông Chu Hồng Văn

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngọc Bích - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Địch Binh - Kiểm sát viên;

Ngày 31 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2022/TLST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Triệu Văn M, sinh năm 1962 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nơi cư trú, thường trú: Bản V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 4/10; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn Q và bà Bàn Thị B; có vợ là Dương Thị B và có 04 con; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/4/2022 đến ngày 21/7/2022 được thay thế bằng biện pháp cho bảo lĩnh; hiện tại bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

* Bị hại: Lý Văn L, sinh năm 1967; đã chết

Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Lý Văn T, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn V, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang; có mặt

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Triệu Văn Th, sinh năm 1986; nơi cư trú: Bản V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Triệu Văn Minh và ông Lý Văn L đều dựng lán ở tạm tại khu rừng Đ, thôn V, xã L, huyện L để chăn thả Trâu trong rừng. Lán của M cách lán của ông L khoảng 300m. Hằng ngày, M và ông L thường ở lại lán để trông coi Trâu chăn thả trong rừng, thỉnh thoảng buổi tối mới về nhà sinh hoạt cùng gia đình. Chiều tối ngày 06/4/2022, M từ khu rừng Đ đi về nhà, M mang theo 01 khẩu súng săn và 02 viên đạn cất giấu ở dưới bếp của gia đình.

Khoảng 04 giờ ngày 07/4/2022, M bảo con trai là Triệu Văn T1 đi xe mô tô chở M vào khu rừng Đ. Khi đi, M mang theo khẩu súng săn và 02 viên đạn, mục đích để săn bắn gà rừng. Khoảng 05 giờ cùng ngày, anh T1 đưa M vào đến khu vực lán trông Trâu của M tại khu rừng Đ, M đi vào lán còn anh T1 đi xe mô tô về nhà. Cùng thời gian này, ông L cũng mang theo 01 khẩu súng săn và 01 loa cầm tay có đầu cắm USB lên lán trông coi Trâu ở khu rừng Đ, nhưng M không biết việc ông L cũng mang súng đi săn bắn ở khu vực này. Nghe thấy có tiếng gà rừng kêu, M cầm khẩu súng săn và 02 viên đạn cất trong túi quần đi men theo đường rừng đến gần vị trí có tiếng gà kêu. M quan sát phát hiện thấy phía trước, cách khoảng 20m có tiếng động của cây rừng và tiếng gà rừng kêu. Lúc này, trời vẫn tối, có nhiều cây rừng làm che khuất tầm nhìn nên M không biết và không nhìn thấy ông L đang ở vị trí này để săn bắn. M nghĩ đó là gà rừng nên lấy 01 viên đạn lắp vào súng rồi ngồi bệt xuống đất, tư thế hai chân quỳ, hai tay ôm giữ súng phía trước, người ở tư thế ngắm và bắn về hướng có tiếng gà rừng kêu. Bắn xong, M lấy vỏ đạn ra khỏi súng cất vào túi quần thì nghe thấy tiếng ông L kêu “Anh M ơi anh bắn nhầm em rồi”. M vứt khẩu súng xuống đất chạy về phía tiếng ông L vừa kêu thì thấy ông L bị thương chảy máu ở vùng ngực, cạnh ông L có 01 chiếc loa (loại loa cầm tay) phát ra tiếng gà kêu. Xác định đã bắn nhầm người, M cởi cúc áo ngực ông L ra xem thì thấy có vết thương bị rách da hình tròn đang chảy máu ở ngực. M ôm giữ người ông L và lấy điện thoại gọi cho vợ là bà Dương Thị B thông báo về việc M đã bắn nhầm vào người ông L và bảo bà B gọi người lên rừng đưa ông L đi cấp cứu. Ông L cũng lấy điện thoại ra gọi điện thông báo sự việc cho con trai là anh Lý Văn T biết, M nói qua điện thoại của ông L cho anh Th biết việc M đi săn, bắn nhầm vào ông L và bảo anh Th đi vào rừng Đ đưa ông L đi cấp cứu. Sau đó, những người thân của Triệu Văn M cùng với người thân của ông L đi đến, đưa ông L đến Trung tâm y tế huyện L cấp cứu, khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày ông L tử vong.

Sau khi gây án, M vất khẩu súng săn gần hiện trường, M đưa cho anh Triệu Văn T2 01 vỏ đạn và 01 viên đạn còn lại, sau đó anh T2 đưa lại cho chị Triệu Thị T3 (là con gái M). Cùng ngày 07/4/2022, Triệu Văn M đến Công an xã T, huyện L đầu thú; bà Dương Thị B (là vợ M) giao nộp cho Cơ quan điều tra: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel; 01 đôi giày vải cao cổ và trang phục (quần, áo) M mặc khi gây án; Chị Triệu Thị T3 giao nộp: 01 vật kim loại hình trụ tròn, một đầu được bịt giấy kín; 01 vật kim loại hình trụ tròn, bên trong rỗng.

Ngày 09/4/2022, anh Triệu Văn Th (là con trai M) tìm kiếm vật chứng ở khu vực hiện trường vụ án đã phát hiện, giao nộp cho Cơ quan điều tra: 01 khẩu súng dài 123 cm, báng súng bằng gỗ dài 39cm (ký hiệu GN1); 01 khẩu súng dài 113 cm, báng súng bằng gỗ dài 37cm (ký hiệu GN2); 01 loa (loại loa cầm tay) nhãn hiệu “Zan Song WS-898” có đầu cắm USB. Anh Th xác định khẩu súng ký hiệu GN1 là súng của Triệu Văn M.

Khám nghiệm hiện trường: Hiện trường xảy ra vụ án tại khu rừng tự nhiên thuộc dãy núi Đ thôn V, xã L, huyện L, bề mặt được bao phủ bởi các cây thân gỗ lớn và hệ thống thảm thực vật gồm các cây bụi tán nhỏ, các cây thân leo tre, nứa.

Vị trí xảy ra vụ việc tại tọa độ 21º11´40B, 106º33´47Đ trên dãy núi Đ, thôn V, xã L, cách lối đi ngang sườn núi khoảng 198m có lối đi men theo hệ thống dưới tán cây. Hiện trường đã bị xáo trộn một phần do quá trình cấp cứu nạn nhân.

Xem xét bề mặt cành lá cây, trên nền đất tại vị trí có tọa độ 21º11´40B, 106º33´47Đ thấy diện dấu vết màu nâu đỏ dạng nhỏ giọt, dạng loang (ký hiệu số 1), kích thước (1,35 x 0,86)m, trong diện phát hiện 01 vật hình trụ tròn sáng màu, dài 6,7cm, một đầu bít kín có đường kính 22cm, một đầu rỗng đường kính 20cm, bên trong lòng có các mảnh giấy màu trắng được nén chặt và bít kín miệng lỗ, gạt bỏ phần lá phía trên xem xét bề mặt nền đất phát hiện 01 mảnh kim loại hình dạng không xác định kích thước dưới 0,5cm. Cách vị trí (ký hiệu số 1) về phía Đông Nam 12m phát hiện rải rác các mảnh giấy màu trắng có phần rìa mép bị cháy xám, ám khói màu đen (ký hiệu số 2) trên diện (4,2 x 1,4)m, xem xét bề mặt nền đất tại ví trí cách dấu vết (ký hiệu số 2) về phía Đông Nam 3,6m phát hiện dấu vết lõm, trượt đất, kích thước (0,35 x 0,15)m, tâm vết cách vị trí số 1 là 17,2m.

Kiểm tra bề mặt thân cây và hệ thống dây leo hướng từ vị trí (ký hiệu số 3) đến vị trí số (1) phát hiện rải rác dấu vết lõm, khuyết vỏ thân cây kích thước (0,5 x 0,4)cm (ký hiệu số 4). Tâm vết tại ví trí cách đất từ 15 đến 35cm, trên thân cây tại vị trí cách dấu vết ký hiệu số (1) là 6,6m, cách đất 0,15m tại vị trí lõm, khuyết vỏ thân cây thấy găm kẹp mảnh kim loại sáng màu, hình dạng không xác định, kích thước dưới 0,5cm.

Quá trình khám nghiệm hiện trường thu giữ: Dấu vết màu nâu đỏ trên bề mặt lá cây, nền đất tại vị trí ký hiệu số (1); 02 hạt kim loại sáng màu (tại vị trí số (2) và số (4); 01 vật kim loại hình trụ tròn dài 6,7cm (dạng viên đạn) tại vị trí số (1); Một số mảnh giấy màu trắng, bám dính ám khói màu đen tại vị trí ký hiệu số (2).

Khám nghiệm tử thi Lý Văn L

* Khám ngoài: Tử thi phủ ngoài 01 chăn, mặc áo phông dài tay kẻ ngang đen trắng, mặt trước thân áo bám dính chất màu nâu đỏ, mặc quần dài màu xanh, trong mặc quần đùi màu tím than. Chiều dài tử thi 1,55m, thể tạng phát triển bình thường, tình trạng tử thi cứng xác.

Kiểm tra áo ngoài thấy: Mặt trước ngực áo trái và vai trái có 13 vết rách thủng vải, vết lớn nhất kích thước (0,1 x 0,5)cm, vết nhỏ nhất kích thước (0,1 x 0,2)cm, bờ mép các vết không gọn, có vết cháy xém không hoàn toàn trên diện (20 x 17)cm.

- Mặt trước ngực áo phải có 05 vết rách thủng vải, bờ mép không gọn trên diện (12 x 08)cm, xem xét quần dài màu xanh thấy:

+ Mặt trước trong ống quần phải vùng cẳng chân có 06 vết rách thủng vải, bờ mép nham nhở, vết thấp nhất cách gấu quần 19,5cm, vết cao nhất cách đũng quần 25cm trên diện (19 x 12)cm.

+ Mặt trước ống quần bên trái có 03 vết rách thủng vải, bờ mép không gọn, vết thấp nhất cách gấu quần 14cm, vết cao nhất cách đũng quần 21cm, trên diện (33,5 x 07)cm

+ Trong túi quần sau bên phải có một vật kim loại hình trụ dài 6,9cm, một đầu tút đường kính 22cm, một đầu rỗng đường kính 20cm bên trong chứa chất rắn màu trắng, một đoạn dây dù màu nâu dài 106cm.

* Các tổn thương cơ thể:

- Vùng đầu: Tóc đen, cắt trung bình có điểm bạc, hai mắt khép kín, hai lỗ tai, lỗ mũi khô, miệng khép không kín, lưỡi trong cung răng.

- Vùng cằm có vết thương rách da, sâu xát xương bờ mép cháy xém, kích thước (0,5 x 0,4)cm.

- Vùng cổ bên trái có một vết cháy xém da kích thước (0,5 x 0,3)cm.

- Vùng ngực trái và mặt ngoài vai trái có 06 vết thương rách, cháy xém da. Vết 1 trong cùng phía trên xương đòn, cách họng ức 8,5cm, kích thước (0,6 x 0,5)cm, sâu thấu trong. Vết số 2 phía ngoài rách da, cách vết 1 là 04cm kích thước (0,6 x 0,6)cm, sâu thấu trong. Vết số 3 phía ngoài rách da, cách vết 2 là 2,3cm kích thước (0,4 x 0,4)cm, sâu thấu trong. Vết số 4 phía dưới, xây xát, cháy xém, cách vết 3 là 2,7cm kích thước (0,4 x 0,4)cm. Vết số 5 xây xát, cháy xém da, phía dưới, cách vết 4 là 06cm kích thước (0,4 x 0,5)cm. Vết số 6 mặt ngoài vai trái , rách da, kích thước (0,6 x 0,5)cm. Bờ mép các vết cháy xém, vết rách da có máu không đông chảy từ trong ra.

- Vùng ngực phải có 01 vết cháy xém da, kích thước (0,5 x 0,6)cm, cách đỉnh núm vú phải 07cm, cách đường giữa 4,5cm. Mặt trước vai phải và 1/3 cánh tay phải trên có 02 vết cháy xém da, vết trong kích thước (0,8 x 0,6)cm, vết ngoài kích thước (0,4 x 0,1)cm. Mặt mu bàn tay trái có vết cháy xém da kích thước (3,5 x 0,4)cm. Mặt trước trong 1/3 dưới đùi trái và gối trái có 03 vết cháy xém da trên diện (13 x 08)cm.

- Mặt trước 1/3 giữa cẳng chân trái có 01 vết xây xát da kích thước (02 x 01)cm, bề mặt cháy xém. Mặt trong gối phải có 01 vết cháy xém da kích thước (0,7 x 0,5)cm.

* Mổ tử thi:

- Giải phẫu tử thi vùng ngực: Bầm tụ máu, tổ chức dưới da cổ phía dưới các vết rách da. Vết rách da số 2, 3, 4 vùng thành ngực trái thấu vào khoang lồng ngực qua khe liên sườn 1, 2 làm dập nát tổ chức đỉnh phổi tạo 03 đường hầm ống vết thương xuyên thấu nhu mô thùy trên phổi trái, phá hủy tổ chức nhu mô phổi xung quanh ống vết thương thấu qua mặt sau thùy trên phổi trái kết thúc tại cơ vùng thành ngực sau và trung thất sau tạo khối máu tụ và phá hủy tổ chức trên diện (10 x 08)cm, trên diện đó chưa tìm thấy dị vật. Khoang lồng ngực trái có khoảng 2000ml máu đông lẫn không đông, tổn thương động, tĩnh mạch phổi trái (BL 58-61).

Quá trình khám nghiệm tử thi, Cơ quan điều tra thu giữ: Quần áo của tử thi; 01 vật kim loại hình trụ tròn dài 6,9cm; 01 đoạn dây dù màu nâu dài 106cm và mẫu máu tử thi Lý Văn L để giám định (BL 58-61).

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định nguyên nhân chết, cơ chế hình thành dấu vết thương tích trên cơ thể tử thi Lý Văn L và trưng cầu giám định AND đối với dấu vết nghi máu thu tại hiện trường (được niêm phong ký hiệu HT3), dấu vết bám dính trên áo Triệu Văn M (ký hiệu GN4) và mẫu máu của tử thi Lý Văn L (ký hiệu TT5).

Kết luận giám định pháp y tử thi số 738/KL-KTHS ngày 05/05/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

- Nguyên nhân chết của ông Lý Văn L: Sốc mất máu cấp do vết thương hỏa khí thấu phổi.

- Thời gian chết của Lý Văn L cho đến khi khám nghiệm tử thi khoảng 04 giờ đồng hồ.

- Cơ chế hình thành dấu vết:

+ Vết thương rách da hình thành do vật tày lực tác động mạnh tạo nên. Trong đó vết thương rách da vùng ngực trái qua da, tổ chức dưới da, cơ, thấu phổi tạo đường hầm, ống vết thương xuyên thấu qua nhu mô thùy trên phổi trái đến trung thất sau và thành ngực sau, phá hủy tổ chức nhu mô phổi xung quanh ống vết thương do vật tày (có tính chất hỏa khí) tác động với lực rất mạnh, xuyên phá hướng từ trước ra sau;

+ Tổn thương cháy xém da hình thành do bỏng nhiệt gây nên.

Kết luận giám định pháp y về ADN số 181/22/TC-ADN ngày 15/04/2022 của Viện pháp Y Quốc Gia – Bộ y tế kết luận:

- Thử định tính phát hiện nhanh vết máu người trên các mẫu gửi giám định ký hiệu HT 3, GN 4: Dương tính;

- AND thu từ các mẫu gửi giám định HT3, GN 4 trùng khớp hoàn toàn với AND thu từ mẫu gửi giám định TT 5 (mẫu máu tử thi Lý Văn L) trên các locus STR đã so sánh.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định đối với số súng, đạn đã thu giữ trong vụ án.

Tại Bản kết luận giám định số 641/KL-KTHS ngày 22/04/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

1. Khẩu súng gửi giám định ký hiệu GN1 là súng săn, cỡ nòng 12,2mm, không thuộc vũ khí quân dụng;

- Khẩu súng gửi giám định ký hiệu GN2 là súng săn, cỡ nòng 20mm, không thuộc vũ khí quân dụng;

- 02 (hai) khẩu súng gửi giám định trên còn sử dụng để bắn được. Khi sử dụng đạn để bắn vào cơ thể người gây chết hoặc bị thương.

2. Vật kim loại hình trụ tròn được ký hiệu HT1, TT3 là đạn ghém tự chế, cỡ đạn 20mm, được sử dụng để bắn cho khẩu súng gửi giám định có dán giấy niêm phong GN2.

- Vật kim loại hình trụ tròn được ký hiệu GN6 là đạn ghém tự chế, cỡ đạn 12,2mm, được sử dụng để bắn cho khẩu súng gửi giám định có dán giấy niêm phong GN1.

- Vật kim loại hình trụ tròn, bên trong rỗng được đựng trong phong bì ký hiệu GN7 là vỏ đạn của loại đạn ghém, cỡ đạn 12,2mm.

3. Các mẫu vật đựng trong các phong bì ký hiệu HT2, HT4, HT5 là thành phần cấu tạo nên đạn ghém tự chế (giống các thành phần có trong viên đạn đựng trong phong bì ký hiệu GN6).

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành thực nghiệm điều tra, cho Triệu Văn M diễn lại động tác, tư thế khi ngắm bắn; xác định từ vị trí M ngồi ngắm bắn đến vị trí ông Lý Văn L bị bắn là 17,2m, nghe rõ âm thanh bình thường phát ra, theo hướng lên dốc sườn núi, trên mặt đất mọc nhiều loại cây thân gỗ và cây leo rậm rạp, che khuất tầm nhìn. Triệu Văn M nhận dạng, xác định khẩu súng ký hiệu GN1 và vỏ đạn ký hiệu GN7 chính là khẩu súng và viên đạn M đã sử dụng bắn làm ông L tử vong.

Về nguồn gốc khẩu súng và số đạn Triệu Văn M khai mua năm 2019 của một người không rõ tên, tuổi, địa chỉ; mục đích mua súng, đạn để sử dụng săn bắn nhưng không đăng ký. Ngày 16/5/2022, UBND huyện L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Triệu Văn M về hành vi sử dụng trái phép súng săn.

Tại bản Cáo trạng số 45/CT-VKS ngày 03 tháng 8 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Triệu Văn Minh về tội “Vô ý làm chết người” theo khoản 1 Điều 128 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên phát biểu luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 128, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Triệu Văn M từ 18 – 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 – 48 tháng về tội “Vô ý làm chết người”. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu 02 khẩu súng săn, 02 hạt kim loại, 03 viên đạn ghém, 01 vỏ đạn, mảnh giấy bám dính ám khói màu đen, 01 áo dài tay màu xanh, 01 quần vải màu xanh, 01 đôi giày vải, 01 đoạn dây dù để tiêu hủy; trả lại đại diện hợp pháp của bị hại 01 quần dài màu xanh, 01 áo phông, 01 loa theo nguyện vọng; trả lại Triệu Văn M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel; miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

- Bị cáo Triệu Văn M trình bày: Ông Lý Văn L sử dụng loa phát tiếng gà rừng kêu để săn bắn, do trời tối, cây rừng rậm rạp nên bị cáo không nhìn thấy ông L; bị cáo dùng súng săn bắn về phía bụi cây rung động có tiếng gà kêu, khi ông L kêu lên thì bị cáo mới biết đã bắn nhầm vào người ông L, hậu quả làm ông L bị chết. Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố bị cáo về tội “Vô ý làm chết người” theo khoản 1 Điều 128 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội; bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi của mình, bị cáo nhất trí với bản luận tội và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, bị cáo hứa sẽ chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, không bao giờ đi săn bắn động vật hoang dã nữa.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại, anh Lý Văn T trình bày: Bị cáo Triệu Văn M săn bắn gà rừng đã vô ý bắn nhầm vào bố anh là ông Lý Văn L, ngay sau khi biết bắn nhầm bị cáo đã gọi cho hai bên gia đình đến đưa ông L đi cấp cứu, do vết thương quá nặng nên ông L đã bị chết. Sau đó gia đình bị cáo rất quan tâm trong việc thăm viếng, động viên và bồi thường đầy đủ cho gia đình anh; đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo Triệu Văn M, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết quả khám nghiệm tử thi Lý Văn L, vật chứng thu giữ được và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 05 giờ ngày 07/4/2022, bị cáo Triệu Văn M cầm theo 01 khẩu súng săn và 02 viên đạn (loại đạn ghém) đi vào khu rừng Đ, thôn V, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang săn bắn gà rừng. Nghe thấy tiếng gà rừng kêu, bị cáo đi men tiến đến gần quan sát phát hiện thấy ở bụi cây phía trước, cách khoảng 20m có tiếng động của cây rừng và tiếng gà rừng kêu. Cùng thời điểm đó, ông Lý Văn L cũng đem theo 01 khẩu súng săn, 01 loa nhỏ cầm tay có cắm USB phát tiếng gà rừng kêu đứng lấp ở bụi cây tại khu vực đó để săn bắn gà rừng; trước đó bị cáo và ông L không hẹn hoặc rủ nhau đi săn bắn gà rừng. Do trời vẫn tối, có nhiều cây rừng làm che khuất tầm nhìn nên bị cáo M không nhìn thấy ông L, bị cáo lấy 01 viên đạn lắp vào khẩu súng ngồi xuống ngắm vào bụi cây có tiếng động và tiếng gà rừng kêu bóp cò bắn. Ngay sau đó ông L kêu lên “Anh M ơi anh bắn nhầm em rồi”, bị cáo vứt súng chạy đến ôm đỡ ông L, lấy điện thoại di động gọi cho người thân của bị cáo và người thân của ông L đi đến để đưa ông L đi cấp cứu, do vết thương quá nặng nên khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày ông L tử vong.

Bị cáo Triệu Văn M săn bắn gà rừng vào lúc sáng sớm, khi trời còn tối, mặc dù không nhìn thấy ông Lý Văn L, cũng không nhìn thấy gà rừng nhưng bị cáo vẫn sử dụng súng săn ngắm bắn vào bụi cây có tiếng động và tiếng gà rừng kêu, bị cáo bắn đạn trúng vào người ông L làm ông L bị chết. Hành vi đó của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của người khác, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, lỗi của bị cáo là vô ý do cẩu thả trong việc xác định mục tiêu khi săn bắn gà rừng. Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố bị cáo Triệu Văn M về tội “Vô ý làm chết người” theo khoản 1 Điều 128 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá các tình tiết để quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo Triệu Văn M là người dân lao động có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại, ngay sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo ra đầu thú, bị cáo có thời gian phục vụ cách mạng trong Quân đội được tặng Huy chương chiến sĩ vẻ vang, người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trên theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy bị cáo Triệu Văn M có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục là đủ, đúng với chính sách nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra vụ án, bị cáo Triệu Văn M (đang bị tam giam) đã tác động người thân bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; anh Triệu Văn Th (là con đẻ bị cáo) đã bồi thường số tiền 250.000.000 đồng cho người đại diện hợp pháp của bị hại là anh Lý Văn T; anh T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nữa nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Anh Triệu Văn Th xác định số tiền bồi thường cho gia đình bị hại là tài sản chung của gia đình do bị cáo M là chủ hộ gia đình, anh Th không yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi hoàn nên không đặt ra giải quyết.

Về vật chứng:

Quá trình điều tra vụ án có thu giữ 01 khẩu súng dài 123 cm, báng súng bằng gỗ dài 39cm (ký hiệu GN1); 01 khẩu súng dài 113 cm, báng súng bằng gỗ dài 37cm (ký hiệu GN2); 02 hạt kim loại sáng màu; 01 loa (loại loa cầm tay) nhãn hiệu “Zan Song WS-898” có đầu cắm USB; 03 vật kim loại hình trụ tròn (đạn ghém); 01 vật kim loại hình trụ tròn, bên trong rỗng (vỏ đạn); mảnh giấy màu trắng, bám dính ám khói màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel của bị cáo M; 01 đôi giày vải cao cổ, 01 quần vải màu xanh, 01 áo dài tay màu xanh (là trang phục của bị cáo M mặc khi gây án); 01 áo phông dài tay kẻ ngang đen trắng và 01 quần dài màu xanh (là trang phục của ông L khi khám nghiệm tử thi); 01 đoạn dây dù màu nâu dài 106cm.

Xét thấy 01 khẩu súng ký hiệu GN1 và 01 vỏ đạn là công cụ, phương tiện bị cáo M sử dụng vào việc phạm tội, 01 khẩu súng ký hiệu GN2 là công cụ ông L đem đi săn bắn, 03 viên đạn ghém là những công cụ, phương tiện cấm lưu hành, 02 hạt kim loại sáng màu, 01 sợi dây dù, mảnh giấy ám khói màu đen đều liên quan đến vụ án nhưng không có giá trị, bị cáo M xác định trang phục bị thu giữ không có giá trị nên không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu toàn bộ những công cụ, phương tiện, đồ vật trên để tiêu hủy. Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại có nguyện vọng nhận lại 01 loa và trang phục của ông L để thực hiện nghi lễ tâm linh nên cần chấp nhận. Chiếc điện thoại di động là tài sản của bị cáo M nhưng không sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo M.

Về án phí: Bị cáo Triệu Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, nhưng bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo được miễn toàn bộ án phí.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình tiến hành tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ai tố cáo, khiếu nại gì. Hội đồng xét xử kết luận hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều đúng quy định và hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1- Áp dụng khoản 1 Điều 128, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Triệu Văn M 02 (hai) năm tù về tội “Vô ý làm chết người” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 31/8/2022).

Giao bị cáo Triệu Văn M cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

2- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu toàn bộ công cụ, phương tiện, đồ vật liên quan đến vụ án nhưng không có giá trị để tiêu hủy gồm: 01 khẩu súng dài 123 cm, báng súng bằng gỗ dài 39cm (ký hiệu GN1); 01 khẩu súng dài 113 cm, báng súng bằng gỗ dài 37cm (ký hiệu GN2); 02 hạt kim loại sáng màu, 03 viên đạn ghém, 01 vỏ đạn, mảnh giấy màu trắng bám dính ám khói màu đen (tất cả được niêm phong đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang); 01 đoạn dây dù màu nâu dài 106cm; 01 đôi giày vải cao cổ, 01 quần vải màu xanh, 01 áo dài tay màu xanh (trang phục của bị cáo M sử dụng khi gây án).

- Trả lại anh Lý Văn T (người đại diện của bị hại) 01 loa nhãn hiệu “Zan Song WS-898”, 01 áo phông dài tay kẻ ngang đen trắng và 01 quần dài màu xanh (trang phục của ông L khi khám nghiệm tử thi).

- Trả lại bị cáo Triệu Văn M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel vỏ máy màu đen.

Những vật chứng nêu trên lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/8/2022 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam).

3- Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Triệu Văn M.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt đều có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ