vanban.org

Bản án 45/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 08/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thái Tr phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phạm Thái Tr 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/7/2021. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 584, Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thái Tr phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2022/HS-ST
Ngày: 08-4-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Anh Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Phước Trinh;

2/ Bà Phạm Thị Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Như Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diệu - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Thái Tr, sinh năm 1985 tại Thành phố Hồ Chí Minh;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 1025/12 đường H, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Ng, sinh năm: 1956 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1960 (chết); anh, em ruột: 03 người kể cả bị cáo; vợ: Sống chung với Nguyễn Thị Tuyết Nh (chưa đăng ký kết hôn), con: chưa có;

Tiền án:

- Ngày 12/9/2006, bị Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án hình sự số 134. Chấp hành xong ngày 23/3/2009.

- Ngày 23/12/2010, bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự số 211.

- Trong khi đang chấp hành án theo Bản án hình sự số 211 ngày 23/12/2010 tại trại giam Xuân Lộc thì phạm tội “Cố ý gây thương tích”, bị Tòa án huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xử phạt 30 tháng tù theo Bản án hình sự số 58A ngày 04/12/2015. Tổng hợp hình phạt với Bản án hình sự số 211 ngày 23/12/2010 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh chấp hành hình phạt 02 năm 10 tháng 24 ngày. Ngày 18/10/2018 chấp hành xong nhưng chưa đóng án phí;

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/7/2021 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Nguyễn Kim L, sinh năm: 1977; nơi cư trú: Ấp T, xã M, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nh, sinh năm: 1989; nơi cư trú: Số 381B Tỉnh lộ 7, Tổ 5, ấp B2, xã M, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

- Người làm chứng: NLC1 (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có tiền tiêu xài cá nhân, Phạm Thái Tr nảy sinh ý định cướp giật tài sản của người khác bán lấy tiền. Khoảng 05 giờ 30 phút, ngày 15/7/2021, Tr một mình điều khiển xe Yamaha Sirius biển số 72G1-122.75 chạy từ nhà trọ Kỳ Duyên theo đường Tam Tân đến cầu Tân Thái rẽ phải vào Tỉnh lộ 7 tìm tài sản cướp giật. Khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến ấp Bình Thượng 1, xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, Tr phát hiện bà Nguyễn Thị Kim L điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Air Blade biển số 59T1-618.94 chạy cùng chiều phía trước, trên cổ đeo sợi dây chuyền vàng 18k (dạng bi tròn, trọng lượng 5.8 chỉ) nên Tr điều khiển xe áp sát phía bên phải xe bà L, dùng tay trái giật sợi dây chuyền của bà L. Sợi dây chuyền bị đứt và rơi tại hiện trường một đoạn gồm 11 viên dạng bi tròn, trọng lượng 0.806 chỉ. Tr chiếm đoạt đoạn dây chuyền còn lại tăng ga xe gắn máy tẩu thoát về hướng xã Phước Thạnh, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tr quay về nhà trọ Kỳ Duyên chở Nguyễn Thị Tuyết Nh và cháu Phạm Thiên Ph, sinh ngày 16/01/2020, con riêng của Nh) đến thuê phòng số 202 khách sạn V&M; địa chỉ: 320 Lê Hồng Phong, Phường 1, Quận 10 để ở. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 15/7/2021, Tr mang đoạn dây chuyền cướp giật được đến cửa hàng kinh doanh bạc Đ, chợ H; địa chỉ: Sạp 2D đường Nh, Phường 5, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh bán cho ông Nguyễn Ngọc B được 11.560.000đ (mười một triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng, Tr mua ma túy đá và tiêu xài cá nhân, còn lại 550.000đồng.

Vật chứng thu giữ (bút lục: 66, 140, 142, 143) gồm: 11 hạt kim loại màu vàng đã trả cho chủ sở hữu (bút lục: 68, 69); 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa màu nâu; 01 áo khoác màu xanh, loại dài tay; 01 đôi giày sandal màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Vsmart Joy 3 màu trắng, 01 nón kết màu đen hiệu Nonson; 01 áo thun ngắn tay màu đen; 01 quần jean màu xanh; tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 550.000 đồng; 01 chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen biển số 72G1-122.75.

Ngày 26/10/2021, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên giám định PNJ có giấy kết quả thử nghiệm: 01 đoạn dây chuyền vàng dạng bi tròn bị đứt còn lại 11 viên kim loại màu vàng có hạm lượng vàng 60.64%, khối lượng 0.806 chỉ.

Bản kết luận định giá tài sản số 159 ngày 31/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: Sợi dây chuyền và mặt dây chuyền bị cướp giật không thu hồi được trị giá 22.643.780 đồng. Bản kết luận định giá tài sản số 174 ngày 11/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: Đoạn dây chuyền vàng dạng bi tròn bị đứt còn lại 11 viên có khối lượng 0.806 chỉ, trị giá là 3.146.705 đồng. Tổng giá trị tài sản là 25.790.485đ (hai mươi lăm triệu bảy trăm chín mươi nghìn bốn trăm tám mươi lăm đồng).

Về phần dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Kim L yêu cầu bị cáo Tr bồi thường thiệt hại số tiền 15.340.000đ (mười lăm triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng) nhưng Tr chưa bồi thường.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi triệu tập Phạm Thái Tr làm việc; Tr khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Tại phiên tòa hôm nay:

Bị cáo Tr thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo và đồng ý với Bản kết luận định giá tài sản số 159 ngày 31/8/2021; số 174 ngày 11/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự.

Bản cáo trạng số: 27/CT-VKS.CC ngày 17/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử bị cáo Phạm Thái Tr về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d và điểm i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 15/7/2021, Phạm Thái Tr điều khiển xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen biển số 72G1-122.75 đi tìm tài sản để cướp giật. Khi đi đến trước số nhà 348 Tỉnh lộ 7, ấp Bình Thượng, xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, Tr phát hiện bà Nguyễn Thị Kim L đang điều khiển xe gắn máy đi cùng chiều phía trước, trên cổ có mang sợi dây chuyền bằng vàng có mặt dây chuyền vàng; Tr điều khiển xe áp sát bên phải xe bà L, dùng tay trái giật sợi dây chuyền và mặt dây chuyền của bà L rồi tăng ga bỏ chạy theo hướng về xã Phước Thạnh, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, Tr mang sợi dây chuyền trên đến bán tại cửa hàng kinh doanh bạc Đại Hoa, chợ Hòa Bình với số tiền là 11.560.000 đồng để mua ma túy đá và tiêu xài cá nhân, còn lại 550.000 đồng. Tổng giá trị thiệt hại là 25.790.485 đồng. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Thái Tr phạm tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo Tr đã có 03 tiền án nhưng chưa được xóa án tích vì vậy lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm i Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải; đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phạm Thái Tr từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác dài tay màu xanh; 01 nón bảo hiểm bằng nhựa màu trắng đen có vành phía trước, trên nón có chữ Sport Helmet; 01 đôi giày Sandal màu đen có chữ PrMartens Soft wait; 01 nón kết màu đen hiệu Nonson, phía bên trái nón ghi số 96; 01 áo thun ngắn tay màu đen có hoa văn hiệu Gucci; 01 quần Jeans màu xanh có ghi chữ DSQREALD2.

- Trả lại cho bị cáo Tr: 01 điện thoại di động màu trắng hiệu Vsmart Joy 3, Imei: 351726112539809 đã qua sử dụng do không liên quan vụ án;

- Tịch thu sung công nhà nước 550.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thu giữ của Tr là số tiền thu lợi bất chính còn lại mà Tr bán sợi dây chuyền vàng và mặt dây chuyền bằng vàng cướp giật được 11.560.000đ sau khi mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân.

- 01 chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen biển số 72G1-122.75 là tài sản của bà Trần Thị Quỳnh Gi, sinh năm: 1985; (nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố R, thị trấn Ph, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) cho Hồ Văn Lam (chưa rõ lai lịch) mượn xe đến nay chưa trả nhưng bà Gi không trình báo Cơ quan Điều tra Công an huyện Xuyên Mộc. Bà Gi xin nhận lại chiếc xe gắn máy trên. Do đó, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Củ Chi tách ra khỏi vật chứng vụ án để trao trả lại tài sản cho bà Gi nên đề nghị không xem xét.

- Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Củ Chi trao trả cho bà Nguyễn Thị Kim L đoạn dây chuyền bị đứt còn lại 11 viên bi tròn, trọng lượng 0.806 chỉ nên đề nghị không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Nguyễn Thị Kim L yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 15.340.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo tự nguyện đồng ý bồi thường cho bà L số tiền này nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo.

Bị cáo Tr không tranh luận, không tự bào chữa.

Bị cáo Tr nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi sai trái của bị cáo, kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Củ Chi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thái Tr đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng 27/CT-VKS.CC ngày 17/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 15/7/2021, Phạm Thái Tr điều khiển xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen biển số 72G1-122.75 đi tìm tài sản để cướp giật. Khi đi đến trước số nhà 348 Tỉnh lộ 7, ấp Bình Thượng, xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, Tr phát hiện bà Nguyễn Thị Kim L đang điều khiển xe gắn máy đi cùng chiều phía trước, trên cổ có mang sợi dây chuyền bằng vàng có mặt dây chuyền vàng; Tr điều khiển xe áp sát bên phải xe bà L, dùng tay trái giật sợi dây chuyền và mặt dây chuyền của bà L rồi tăng ga bỏ chạy theo hướng về xã Phước Thạnh, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, Tr mang sợi dây chuyền trên đến bán tại cửa hàng kinh doanh bạc Đ, chợ H với số tiền là 11.560.000 đồng để mua ma túy đá và tiêu xài cá nhân, còn lại 550.000 đồng. Tổng giá tài sản trị thiệt hại là 25.790.485 đồng nên đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo Phạm Thái Tr có 03 tiền án: Ngày 12/9/2006, Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành án tại trại tam giam Đăk Trung, Bộ Công an; ngày 23/3/2009, chấp hành xong. Ngày 23/12/2010, Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Trong thời gian chấp hành án phạt tù tại Phân trại IV của trại giam Xuân Lộc, Bộ Công an, Tr phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xử phạt 02 năm 06 tháng tù. Ngày 18/10/2018, Tr chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa đóng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Tr phạm tội lần kế lần này thuộc trường hợp đã tái phạm, chưa được xóa án tích và lần này bị cáo Tr lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Như vậy, bị cáo Tr đã phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cho nên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo Tr là đúng quy định pháp luật, đúng tội, đúng người. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Thái Tr đã phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d và điểm i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, với phương thức lợi dụng sơ hở của người quản lý, đã chiếm đoạt tài sản, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng đến đời sống và sinh hoạt tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức rõ việc bị cáo chiếm đoạt tài sản công dân sẽ bị pháp luật trừng trị, hành vi giật dây chuyền của bị cáo có thể làm cho bị hại té ngã khi đang điều khiển phương tiện giao thông, ảnh hưởng đến tính mạng và sức khỏe, thế nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên đi đến hành động phạm tội chỉ vì cần tiền tiêu xài nhằm thoả mãn nhu cầu của cá nhân bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phạt nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội và để bảo đảm đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung. Tuy nhiên cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được định khung thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về xử lý vật chứng vụ án:

- 01 áo khoác dài tay màu xanh; 01 nón bảo hiểm bằng nhựa màu trắng đen có vành phía trước, trên nón có chữ Sport Helmet; 01 đôi giày Sandal màu đen có chữ PrMartens Soft wait; 01 nón kết màu đen hiệu Nonson, phía bên trái nón ghi số 96; 01 áo thun ngắn tay màu đen có hoa văn hiệu Gucci; 01 quần Jeans màu xanh có ghi chữ DSQREALD2 được bị cáo Tr sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động màu trắng hiệu Vsmart Joy 3, Imei: 351726112539809 đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo Tr, không sử dụng vào mục đích phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại cho bị cáo Tr.

- Số tiền 550.000đ thu giữ của Tr là số tiền còn lại mà bị cáo Tr bán sợi dây chuyền vàng và mặt dây chuyền bằng vàng cướp giật được 11.560.000đ sau khi mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân. Đây là số tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội của bị cáo và bị hại bà L đã từ chối nhận số tiền này. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- 01 chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen biển số 72G1-122.75 là tài sản của bà Trần Thị Quỳnh Gi, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Củ Chi tách ra khỏi vật chứng vụ án để trao trả lại tài sản cho bà Giao là phù hợp, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến; Hội đồng xét xử không xét.

- Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Củ Chi trao trả cho bà Nguyễn Thị Kim L đoạn dây chuyền bị đứt còn lại 11 viên bi tròn, trọng lượng 0.806 chỉ là phù hợp, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến; Hội đồng xét xử không xét.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Nguyễn Thị Kim L yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 15.340.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo tự nguyện đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 15.340.000 đồng; đại diện Viện kiểm sát đề nghị ghi nhận là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo.

Đối với ông Nguyễn Ngọc B chủ cửa hàng kinh doanh bạc Đ, chợ H; địa chỉ: Sạp 2D đường Nh, Phường 5, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh không thừa nhận đã mua sợi dây chuyền vàng do Tr mang đến bán. Ông B khai: Ngày 15/7/2021, ông ở nhà số 1107/17 Phạm Thế H, Phường 5, Quận 8 tổ chức sinh nhật. Ban Quản lý chợ H xác nhận do dịch Covid-19 nên tiểu thương ngừng kinh doanh từ ngày 19/6/2021 nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Củ Chi không có căn cứ xử lý là phù hợp; đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến, Hội đồng xét xử không xét.

Đối với bà Nguyễn Thị Tuyết Nh sống chung với bị cáo tại phòng số 3 nhà trọ Kỳ Duyên, ấp Tam Tân, xã Tân An Hội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh không biết bị cáo Tr cướp giật tài sản, không bàn bạc, không tham gia thực hiện hành vi, không tiêu thụ tài sản do Tr phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Củ Chi không có căn cứ xử lý là phù hợp. đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến; Hội đồng xét xử không xét.

Về nghĩa vụ chịu án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; bị cáo Tr phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm d, i khoản 2 Điều 171 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thái Tr phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phạm Thái Tr 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/7/2021.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 584, Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015;

Buộc bị cáo Phạm Thái Tr phải có trách nhiệm bồi thường cho bà Nguyễn Thị Kim L số tiền 15.340.000đ (mười lăm triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng), trả một lần số tiền trên ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác dài tay màu xanh; 01 nón bảo hiểm bằng nhựa màu trắng đen có vành phía trước, trên nón có chữ Sport Helmet; 01 đôi giày Sandal màu đen có chữ PrMartens Soft wait; 01 nón kết màu đen hiệu Nonson, phía bên trái nón ghi số 96; 01 áo thun ngắn tay màu đen có hoa văn hiệu Gucci; 01 quần Jeans màu xanh có ghi chữ DSQREALD2;

- Trả lại cho bị cáo Phạm Thái Tr: 01 điện thoại di động màu trắng hiệu Vsmart Joy 3, Imei: 351726112539809 đã qua sử dụng;

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 550.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Các vật chứng trên được liệt kê theo Lệnh Nhập kho vật chứng số 31/LNK-CSĐT-CSHS ngày 16/12/2021; số 80/ LNK-CSĐT-CSHS ngày 23/12/2021 và Phiếu nhập kho vật chứng số 09/PNK ngày 31/12/2021 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Củ Chi.

4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Buộc bị cáo Phạm Thái Tr phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Buộc bị cáo Phạm Thái Tr phải chịu 767.000đ (bảy trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Tr, bị hại L có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nh vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ