- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thái B - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 38; khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 45/2022/HS-ST Ngày: 06/04/2022 |
HUYỆN BẮC BÌNH Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Thanh Trúc Tuyền Các Hội thẩm nhân dân: 1-Bà Phạm Thị Bích Lệ 2-Ông Bá Đình Tâm - Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Hoàng B Vân-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Ông Lư Ngọc Quí - Kiểm sát viên Ngày 06 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 128/2021/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2021/QĐXXST- HS ngày 25 tháng 11 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 66/2021/HSST-QĐ ngày 10/12/2021; Thông báo thời gian mở lại phiên tòa số 55/TB-TA ngày 31/12/2021; Thông báo thay đổi thời gian xét xử vụ án số 03a/TB-TA ngày 10/01/2022 và Thông báo thời gian mở lại phiên tòa số 17/TB-TA ngày 24/02/2022 đối với các bị cáo: 1. Trần Thái B, sinh năm 1995 tại tỉnh Bình Thuận Nơi cư trú: Khu phố LT, thị trấn LS, huyện BB, tỉnh Bình Thuận Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 9/12 Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam Con ông Trần Văn L, sinh năm 1968 và bà Lê Thị L1, sinh năm: 1971; Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án: Không; tiền sự: - Ngày 26/6/2020, B bị Công an thị trấn LS ra Quyết định xử phạt hành chính với số tiền 1.500.000 đồng, về hành vi: "Trộm cắp tài sản", B đã đóng tiền nộp phạt.
- Ngày 04.3.2021, Trần Thái B bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sơ cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng (theo quyết định số 13/QĐ-TA), tuy nhiên đến nay B vẫn chưa được đưa đi chấp hành. - Ngày 05/6/2020, Trần Thái B bị Công an thị trấn LS ra Quyết định xử phạt hành chính với số tiền 1.500.000 đồng, về hành vi: "Tàng trữ trái phép chất ma túy", B chưa đóng tiền nộp phạt. Quá trình hoạt động nhân thân của bị cáo: Tháng 8 và tháng 9/2020 Trần Thái B thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, ngày 10/8/2021 B bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình tuyên phạt 12 tháng tù giam theo bản án số 72/2021/HS-ST. Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam Sông Cái, có mặt. 2. Đỗ Anh Ph (Tên gọi khác: C), sinh năm 1995 tại tỉnh Bình Thuận Nơi cư trú: Khu phố LT, thị trấn LS, huyện BB, tỉnh Bình Thuận Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 8/12 Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam Con ông Đỗ Ngọc K, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971; Bị cáo có vợ và 01 con. Tiền sự: Không; Tiền án: Vào tháng 12/2019, Đỗ Anh Ph thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản, ngày 02/6/2020 Ph bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình tuyên phạt 15 tháng tù giam theo bản án số 26/2020/HS-ST. Ngày 30/01/2021, Ph chấp hành xong án phạt tù Nhân thân: Ngày 10/6/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xử phạt 02 năm tù, về tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Chấp hành xong ngày 15/8/2015 (đã được xóa án tích). Ngày 15/12/2019, Đỗ Anh Ph cùng với Phạm Lê Trí V hiện hành vi trộm 02 quả tạ của mâm bánh xe máy cày nhưng không đủ định lượng. Do vậy, ngày 18/02/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Bình ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự và chuyển hồ sơ đề nghị xử lý hành chính đối với Đỗ Anh Ph về hành vi trộm cắp tài sản. Đến nay, Ph chưa bị xử lý hành chính về hành vi này. Ngày 19/08/2021, Ph tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản trong một vụ án khác tại xã PL, huyện BB, hiện Công an xã PL đang củng cố hồ sơ để chuyển công an huyện Bắc Bình xử lý theo quy định. Tạm giam ngày 28/9/2021, có mặt. -Bị hại: 1.Anh Ngô Vương S, sinh năm 1984 (vắng mặt) Địa chỉ: Thôn A, xã SL, huyện BB, tỉnh Bình Thuận.
2.Ông Đinh Tiến D, sinh năm 1963 (vắng mặt) Địa chỉ: Khu phố LT, thị trấn LS, huyện BB, tỉnh Bình Thuận. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Bà Vũ Thị H1, sinh năm 1977 (vắng mặt) Địa chỉ: Thôn HB, xã SL, huyện BB, tỉnh Bình Thuận. 2. Anh Huỳnh Đại Ng, sinh năm 1999 (vắng mặt) Địa chỉ: Thôn BS, xã BT, huyện BB, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trần Thái B, sinh năm 1995 ở khu phố LT, thị trấn LS, huyện BB, tỉnh Bình Thuận. Vào ngày 26/6/2020, B bị Công an thị trấn LS ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng, về hành vi: "Trộm cắp tài sản", B đã đóng tiền nộp phạt. Hiện chưa hết thời gian để được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Tuy đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: "Trộm cắp tài sản" nhưng B vẫn tiếp tục 02 lần trộm cắp tài sản của người khác, Đỗ Anh Ph ở khu phố LT, thị trấn LS, huyện BB có 01 tiền án: Vào tháng 12/2019 Đỗ Anh Ph thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, ngày 02/6/2020 Ph bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình tuyên phạt 15 tháng tù giam theo bản án số 26/2020/HS-ST. Ngày 30/01/2021, Ph chấp hành xong án phạt tù. Tuy đã có 01 tiền án chưa được xóa án tích nhưng Ph vẫn tiếp tục cùng Trần Thái B thực hiện 01 lần trộm cắp tài sản; cụ thể như sau: Lần 1: Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 15/04/2021, Đỗ Anh Ph đi bộ từ nhà đến nhà Trần Thái B rủ B đi lên nhà người anh quen biết ngoài xã hội tên Tư (không rõ lai lịch) ở xã Z để thăm hỏi. B đồng ý rồi điều khiển xe mô tô biển số 86K3-1301 (xe mô tô B mượn của người anh quen biết ngoài xã hội tên MC, không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) chở Ph ngồi sau đi theo hướng LS – SL. Khi lên đến nhà của T, thấy không có T ở nhà nên B chở Ph chạy về nhà lại. Trên đường về, đến khu vực thuộc thôn HB, xã SL, huyện BB, B và Ph thấy chòi rẫy của ông Ngô Vương S không có ai trông coi nên B điều khiển xe mô tô chở Ph chạy vào trong chòi rẫy, B và Ph thấy có 02 khung kim loại (loại khung để đúc bi) để bên hông chòi rẫy nên nảy sinh ý định trộm cắp để bán lấy tiền tiêu xài. B và Ph xuống xe rồi B mở cốp xe lấy bộc đồ nghề mở phụ tùng xe đi đến vị trí 02 khung kim loại để tháo mở ra, Ph thấy vậy nên đi đến phụ B tháo 02 khung kim loại. Sau khi tháo xong, B và Ph khiêng 01 khung kim loại hình cung dùng để đúc bi nước bỏ lên yên sau xe mô tô, B nói Ph chở đi bán còn B ở lại chòi rẫy chờ Ph quay lại. Ph điều khiển xe chở 01 khung kim loại vừa trộm được đi đến tiệm thu mua phế liệu của bà Vũ Thị H1 (sinh năm: 1977; cư trú: thôn HB, xã SL, huyện BB) để bán. bà H1 không biết khung kim loại do trộm cắp mà có nên đồng ý mua với giá 7000đ/01 kg sắt (giá sắt phế liệu), bà H1 cân được 32 kg và đưa cho Ph số tiền 215.000 đồng. Ph điều khiển xe mô tô quay trở lại chòi rẫy ông S để tiếp tục chở 01 khung kim
loại còn lại, khi trở lại chòi rẫy ông S, B và Ph đưa 01 khung kim loại hình tròn dùng để đúc bi nước lên xe mô tô rồi B ngồi trước điều khiển xe mô tô, Ph ngồi sau giữ 01 khung kim loại. Khi vừa chạy ra khỏi chòi rẫy ông S thì B và Ph bị người dân phát hiện và bắt giữ lại và báo cho Công an xã Sông Lũy. Công an xã Sông Lũy đến mời B và Ph cùng tang vật về trụ sở, B và Ph đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 48/2021/HĐĐG-TTHS ngày 28/06/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Bắc Bình kết luận: - 01 (một) khung kim loại hình tròn dùng để đúc bi nước, kích thước: cao 65cm, đường kính 100cm, cân nặng 52kg, đã bị gỉ sét, cũ tại thời điểm ngày 15/4/2021: Đơn giá: 8.000 đồng/kg; khối lượng: 52kg; thành tiền: 8.000 đồng/kg x52kg = 416.000 đồng. - 01 (một) khung kim loại hình cung dùng để đúc bi nước, kích thước: cao 65cm, đường kính 100cm, cân nặng 32kg, đã bị gỉ sét, cũ tại thời điểm ngày 15/4/2021: Đơn giá: 8.000 đồng/kg; khối lượng: 52kg; thành tiền: 8.000 đồng/kg x 32kg = 256.000 đồng. Tổng tài sản bị trộm cắp vào ngày 15/04/2021 tại xã Sông Lũy gồm: 01 (một) khung kim loại hình tròn dùng để đúc bi nước, kích thước: cao 65cm, đường kính 100cm, cân nặng 52kg, đã bị gỉ sét, cũ và 01 (một) khung kim loại hình cung dùng để đúc bi nước, kích thước: cao 65cm, đường kính 100cm, cân nặng 32kg, đã bị gỉ sét, cũ là 672.000 đồng. Lần 2: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 20.6.2021, Trần Thái B (sinh năm 1995; trú tại: Khu phố LT, thị trấn LS, huyện BB, tỉnh Bình Thuận) đi bộ ngang qua nhà ông Đinh Tiến D tại khu phố LT, thị trấn LS, huyện BB thì phát hiện 01 xe mô tô biển số 86S1-4500 đang dựng trong sân nhà, trên xe có gắn sẵn chìa khóa không có người trông coi nên B nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô trên. B đi đến dắt xe ra khỏi nhà ông D rồi nổ máy xe điều khiển chạy hứơng về xã BT, huyện BB, trên đường đi B dừng xe và tháo biên số xe bỏ bên lề đường rồi tiếp tục điều khiển xe đi, B gặp người quen qua đường tên T (chưa xác định được lai lịch) hỏi mua xe không thì người này trả lời không và giới thiệu cho B ông Huỳnh Đại Ng để B liên hệ. Sau đó, B gọi điện cho Ng hẹn gặp và trao đổi mua bán xe tại khu vực trước cây xăng trên đường Quốc lộ 1A, đoạn giáp ranh xã BT- xã HL. B điều khiển xe đến khu vực trên bán cho Ng, Ng không biết là xe do B trộm cắp nên đồng ý mua với giá 700.000 đồng. B lấy tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân. Sau khi phát hiện mất chiếc xe, ông D làm đơn trình báo Công an thị trấn Lương Sơn. Công an thị trấn Lương Sơn xác minh và mời B làm việc thì B khai nhận toàn bộ hành vi nêu trên. ông Ng đã tự nguyện giao nộp xe để phục vụ điều tra. Theo biên bản và kết luận định giá tài sản của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 61/2021/HDĐG-TTHS ngày 06.7.2021 kết luận: - Xe mô tô biển số 86S1-4500 màu đen, nhãn hiệu Traencomotor, loại xe nữ, màu đen, số máy 50FMG128090, số khung 2HY7B128090, mua mới vào năm
2008 bị trộm cắp ngày 20.6.2021 tại thị trấn Lương Sơn: Nguyên giá: 7.400.000 đồng/chiếc; Số lượng: 01 chiếc; Chất lượng còn lại: 25%; Thành tiền: 01 chiếc x (7.400.000 đồng/chiếc x 25%) = 1.850.000 đồng. Giá trị tài sản là 01 chiếc xe mô tô biển số 86S1-4500 màu đen, nhãn hiệu Traencomotor, loại xe nữ, màu đen, số máy 50FMG128090, số khung 2HY7B128090, mua mới vào năm 2008 tại thời điểm ngày 20/6/2021 là 1.850.000 đồng. Về tang, vật chứng và bồi thường dân sự: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 (một) khung kim loại hình tròn dùng để đúc bi nước, kích thước: cao 65cm, đường kính 100cm, cân nặng 52kg; 01 (một) khung kim loại hình cung dùng để đúc bi nước, kích thước: cao 65cm, đường kính 100cm, cân nặng 32kg; 01 chiếc xe mô tô biển số 86S1-4500 màu đen, nhãn hiệu Traencomotor và số tiền 215.000 đồng của B và Ph. Sau khi định giá tài sản, Cơ quan điều tra Công an huyện Bắc Bình đã giao trả lại 02 bộ khung kim loại cho bị hại Ngô Vương S và trả lại 01 chiếc xe mô tô biển số 86S1-4500 cho Đinh Tiến D theo quy định. Các bị hại Ngô Vương S và Đinh Tiến D không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét, giải quyết. Bà Vũ Thị H1 yêu cầu trả lại số tiền 215.000 đồng, do H1 không biết là tài sản do B và Ph trộm cắp nên cơ quan điều tra đã trả lại số tiền 215.000 đồng cho H1 theo quy định. Ông Huỳnh Đại Ng không yêu cầu Trần Thái B trả lại số tiền 700.000 đồng nên không xem xét, giải quyết. Đối với xe mô tô biển số 86K3-1301 B và Ph dùng để đi trộm cắp tài sản, qua xác minh chủ sở hữu là ông Phạm Quang V1, trú tại khu phố BS, thị trấn LS, huyện BB, tuy nhiên hiện nay ông V1 không có mặt tại địa phương nên cơ quan điều tra sẽ tiếp tục tạm giữ để xác minh, xử lý sau. Tại bản Cáo trạng số 127/CT-VKS.HBB ngày 15/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình đã truy tố các bị cáo: 1. Trần Thái B, về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). 2. Đỗ Anh Ph, về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, *Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, các bị cáo nhận thấy việc làm của mình là trái pháp luật và xin được giảm nhẹ hình phạt. *Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị: - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt: Bị cáo Trần Thái B từ 12 đến 18 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.
- Áp dụng khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tổng hợp hình phạt 12 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số: 72/2021/HS-ST, ngày 10/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận; buộc bị cáo Trần Thái B chấp hành hình phạt chung từ 24 đến 30 tháng tù. - Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt: Bị cáo Đỗ Anh Ph từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù về tội trộm cắp tài sản.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Bắc Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2]. Bị hại Ngô Vương S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vũ Thị H1 được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, các bị hại Đinh Tiến D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Đại Ng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; xét thấy, những người này đã có đầy đủ lời khai tại cơ quan điều tra và các chứng cứ của vụ án đã rõ ràng. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt những người trên là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự. [3]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ, đủ cơ sở để kết luận, các bị cáo Trần Thái B, Đỗ Anh Ph có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: Đây là vụ án: “Trộm cắp tài sản”, do Trần Thái B 01 lần trực tiếp thực hiện và 01 lần cùng với Đỗ Anh Ph thực hiện, cụ thể: Lần thứ nhất: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 15/04/2021 tại thôn HB, xã SL, huyện BB, B và Ph lén lút lấy trộm 01 khung kim loại hình tròn dùng để đúc bi nước, kích thước: cao 65cm, đường kính 100cm, cân nặng 52kg và 01 khung kim loại hình cung dùng để đúc bi nước, kích thước: cao 65cm, đường kính 100cm, cân nặng 32kg trị giá 672.000 đồng của ông Ngô Vương S. Lần thứ 2: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 20.6.2021 tại khu phố LT, thị trấn LS, huyện BB, B lén lút lấy trộm 01 xe mô tô biển số 86S1-4500 màu đen, nhãn hiệu Traencomotor của Đinh Tiến D trị giá 1.850.000 đồng thì bị phát hiện. Do đó, hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo
quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo Trần Thái B, về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và bị cáo Đỗ Anh Ph, về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. [4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi bị bắt và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo, như ý kiến của Kiểm sát viên là đúng quy định pháp luật. [5]. Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo là thanh niên khỏe mạnh, có khả năng lao động nhưng vì lười biếng, muốn nhanh có tiền tiêu xài cá nhân, nên lợi dụng sự sơ hở của bị hại để chiếm đoạt tài sản, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, không những đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Các bị cáo đã nhiều lần phạm tội, sau khi chấp hành án xong hình phạt, các bị cáo không chịu tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Do đó, cần thiết phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục các bị cáo thành công dân tốt, có ý thức tuân theo pháp luật. [6]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; ; Điều 38; khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); - Tuyên bố: Bị cáo Trần Thái B phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - Xử phạt: Bị cáo Trần Thái B 12 (Mười hai) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 12 (Mười hai) tháng tù tại Bản án số 72/2021/HS-ST ngày 10/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình; buộc bị cáo Trần Thái B phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27 tháng 9 năm 2021.
2. Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); - Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Anh Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - Xử phạt: Bị cáo Đỗ Anh Ph 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 28 tháng 9 năm 2021. 3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Buộc mỗi bị cáo Trần Thái B và bị cáo Đỗ Anh Ph phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. 4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (06/4/2022). Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Nơi nhận: - VKSND tỉnh B.Thuận; - VKSND huyện B.Bình; - Công an huyện B.Bình; - THADS huyện B.Bình; - Bị cáo, bị hại; NCLQ, NVLQ; - Lưu: Hồ sơ vụ án, V.P. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Thanh Trúc Tuyền |