- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Yến O. Bà Trần Yến O được ly hôn với ông Huỳnh Nuôi A.
- Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2022/HNGĐ-ST Ngày: 27 - 4 - 2022 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Mộng Chi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Hữu Hiệp
Ông Trịnh Hoàng Thám
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Anh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hên – Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 09/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 36/2022/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Yến O, sinh năm 2000 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp 6, xã Khánh Hội, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau
- Bị đơn: Ông Huỳnh Nuôi A, sinh năm 1988 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp 7, xã Khánh Lâm, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 06 tháng 01 năm 2021 nguyên đơn bà Trần Yến O trình bày:
Về hôn nhân: Được sự đồng ý của gia đình hai bên năm 2018 bà và ông Huỳnh Nuôi A tự nguyện làm đám cưới, chung sống với nhau đến năm 2020 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khánh Hội, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và có một người con chung. Thời gian gần đây vợ chồng luôn phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông Nuôi A không lo cho vợ con nên dẫn đến ly thân gần một năm nay. Xét thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh Nuôi A.
Về con chung: Có 01 con chung tên Huỳnh Kiều T, sinh ngày 05/7/2019 hiện sống chung với bà. Sau khi ly hôn con chung bà yêu cầu nuôi con, yêu cầu ông Nuôi A cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Huỳnh Nuôi A đúng theo quy định pháp luật nhưng ông Nuôi A không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh phát biểu: Về thủ tục tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 110, 116, 117 của Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Yến O đối với ông Huỳnh Nuôi A; giao con chung tên Huỳnh Kiều T, sinh ngày 05/7/2019 cho bà Trần Yến O tiếp tục nuôi dưỡng, buộc ông Nuôi A cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi; về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét; về án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng, quan hệ tranh chấp: Bà Trần Yến O yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh Nuôi A tranh chấp được xác định là tranh chấp hôn nhân gia đình về việc ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Trần Yến O có đơn xin vắng mặt, ông Huỳnh Nuôi A đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Nuôi A theo quy định.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Yến O và ông Huỳnh Nuôi A làm đám cưới chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện vào năm 2018 đến năm 2020 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khánh Hội, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau theo quy định nên quan hệ hôn nhân của bà O và ông Nuôi A là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Bà Trần Yến O yêu cầu ly hôn với ông Nuôi A vì bà O xác định thời gian chung sống vợ chồng luôn phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng ý kiến trong sinh hoạt hàng ngày, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Huỳnh Nuôi A để tham gia giải quyết vụ án nhưng ông Nuôi A không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của bà Trần Yến O và cũng không có biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng nên bà O cương quyết ly hôn. Từ đó cho thấy cuộc sống hôn nhân của bà O và ông Nuôi A không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Trần Yến O ly hôn với ông Huỳnh Nuôi A.
Về nuôi con chung: Bà Trần Yến O và ông Huỳnh Nuôi A có một con chung tên Huỳnh Kiều T, sinh ngày 05/7/2019, bà O yêu cầu được nuôi con. Xét thấy, con chung Huỳnh Kiều T chưa đủ 36 tháng tuổi, hiện nay do bà O nuôi dưỡng; Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Nuôi A nhưng ông Nuôi A không có ý kiến gì đối với việc bà O yêu cầu nuôi con. Do đó, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung khi cha mẹ ly hôn nên Hội đồng xét xử giao con chung tên Huỳnh Kiều T cho bà O tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Nuôi A không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom không ai được cản trở.
Bà Trần Yến O yêu cầu ông Nuôi A cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Xét thấy, Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Nuôi A nhưng ông Nuôi A không có ý kiến gì đối với việc bà O yêu cầu nuôi con theo quy định của pháp luật. Đồng thời, Xét thấy, tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình quy định “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Căn cứ vào điều luật đã viện dẫn Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng nuôi của bà Trần Yến O. Buộc ông Nuôi A có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Huỳnh Kiều T mỗi tháng 1.000.000 đồng, cấp dưỡng hàng tháng, thời gian cấp dưỡng từ ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.
Về tài sản chung: Bà Trần Yến O xác định tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Bà Trần Yến O xác định không có, ông Nuôi A không có ý kiến gì đối với việc bà O xác định quá trình chung sống không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Từ những phân tích trên, xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Bà Trần Yến O phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng. Ông Huỳnh Nuôi A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 110, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình; các điều 357, 468 của Bộ luật dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Yến O. Bà Trần Yến O được ly hôn với ông Huỳnh Nuôi A.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Huỳnh Kiều T, sinh ngày 05/7/2019 cho bà Trần Yến O tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Huỳnh Nuôi A không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc ông Huỳnh Nuôi A cấp dưỡng nuôi con chung Huỳnh Kiều T, sinh ngày 05/7/2019 mỗi tháng 1.000.000 đồng, cấp dưỡng hàng tháng, thời gian cấp dưỡng từ ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.
Đối với khoản tiền phải cấp dưỡng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4 Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
5. Về án phí: Bà Trần Yến O phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng. Bà Trần Yến O đã nộp tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010189 ngày 10/01/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau được chuyển thu án phí.
Ông Huỳnh Nuôi A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện U Minh; - Chi cục THADS huyện U Minh; - Các đương sự; - UBND xã nơi đăng ký kết hôn; - Lưu: hồ sơ vụ án, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mộng Chi |