vanban.org

Bản án 45/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "án hôn nhân gia đình"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHĨA ĐÀN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2022/HNGĐ - ST
Ngày 30/9/ 2022
V/v “ Ly hôn, giải quyết ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Văn Dương và ông Phan Thế Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lan

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Linh - Kiểm sát viên Trong ngày 30 tháng 9 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn xét xử sơ thẩm công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 151/2022/TLST - HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2022 về yêu cầu “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con” Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2022 và quyết định hoãn phiên toà số 19/QĐHPT- HNGĐST ngày 05 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Mai T - sinh năm 2000

Địa chỉ: xóm T - xã N- huyện Nghĩa Đàn- Tỉnh Nghệ An (Có mặt)

2. Bị đơn: anh Nguyễn Trọng D - sinh năm 1996

Địa chỉ: xóm A - xã N - huyện Nghĩa Đàn- Tỉnh Nghệ An (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mai T trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Trọng D kết hôn với nhau vào ngày 16 tháng 12 năm 2019 tại ủy ban nhân dân xã Nghĩa An - huyện Nghĩa Đàn- tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không hiểu và không tôn trọng nhau dẫn đến mất tình cảm, đã sống ly thân nhau từ năm 2020 đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Trọng D. Về con chung: Chị và anh Nguyễn Trọng D có một con chung là Nguyễn Đan Q, sinh ngày 14 tháng 7 năm 2019. Ly hôn chị T có nguyện vọng được nuôi con vì từ ngày anh chị sống ly thân nhau con ở với chị, hiện tại có cuộc sống ổn định. Chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với bị đơn là anh Nguyễn Trọng D: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho anh D biết đồng thời tống đạt các tài liệu, giấy triệu tập hợp lệ cho anh D nhưng anh D vẫn không có mặt để giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến xác minh và hành niêm yết các tài liệu, chứng cứ tại địa phương nơi anh D cư trú theo đúng quy định tại điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật.

- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án: Hội đồng xét xử đã tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án; Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định tại điều 51, điều 236, điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật

- Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mai T là cho ly hôn với anh Nguyễn Trọng D; Việc nuôi con: đề nghị hội đồng xét xử giao con chung là Nguyễn Đan Q sinh ngày 14 tháng 7 năm 2019 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đã thành niên có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình; Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mai T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mai T có nơi cư trú tại xóm T - xã Nghĩa K - huyện Nghĩa Đàn- Tỉnh Nghệ An yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Trọng D là bị đơn có nơi cư trú tại xóm A - xã N - huyện Nghĩa Đàn- Tỉnh Nghệ An do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn theo quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Về việc xét xử vắng mặt của bị đơn: Bị đơn anh Nguyễn Trọng D có hộ khẩu thường trú tại xóm A- xã N - huyện Nghĩa Đàn- tỉnh Nghệ An quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho anh D biết đồng thời tống đạt các tài liệu, giấy triệu tập hợp lệ cho thân nhân của anh D, quá trình xác minh thì được biết sau khi nhận giấy báo của Toà án anh D đã biết thời gian, địa điểm đến Toà án để giải quyết vụ án nhưng anh D không đến và không có ý kiến gì. Toà án đã tiến hành niêm yết các tài liệu, giấy triệu tập và các chứng cứ tại địa phương nơi anh D cư trú theo đúng quy định tại điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 227; điểm b khoản 1 điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. [2] Về nội dung

2.1. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Mai T và anh Nguyễn Trọng D kết hôn với nhau trên sơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 16 tháng 12 năm 2019 tại ủy ban nhân dân xã N - huyện Nghĩa Đàn- Tỉnh Nghệ An là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm, vợ chồng không còn tôn trọng nhau, không còn tình cảm với nhau nên đã sống ly thân nhau từ năm 2020 đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Xét thấy tình cảm giữa chị T và anh D không còn, mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Mai T.

2.2. Về con chung: chị Nguyễn Thị Mai T và anh Nguyễn Trọng D có một con chung là Nguyễn Đan Q, sinh ngày 14 tháng 7 năm 2019. Quá trình chị T và anh D sống ly thân thì con ở với chị T, hiện nay có cuộc sống ổn định nên chị T mong muốn được nuôi con vì là con gái nên chị mong muốn được trực tiếp nuôi con để gần gũi, chăm sóc con chu đáo hơn. Để đảm bảo quyền lợi cho con chung hội đồng xét xử thấy rằng cần giao con chung cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các con chung đã thành niên có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình là phù hợp. 2.3. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh D do chị T không yêu cầu. 2.4. Về tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Thị Mai T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. [3]. Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mai T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39; điểm b khoản 2 điều 227, điểm b khoản 1 điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 56; điều 58, điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mai T. 1.Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Mai T ly hôn với anh Nguyễn Trọng D. 2.Việc nuôi con: Giao con chung là Nguyễn Đan Q sinh ngày 14 tháng 7 năm 2019 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đã thành niên có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh D do chị T không yêu cầu. Anh D có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con chung khi có căn cứ hoặc có lý do chính đáng theo quy định của pháp luật thì có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng, mức cấp dưỡng nuôi con. 3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án chị Nguyễn Thị Mai T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng đã nộp tại biên lai thu tiền số 0005792 ngày 12 tháng 7 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn. 4. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mai T có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Nguyễn Trọng D có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ