- Tranh chấp gì? án hành chính — "Nguyễn Thành T Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ông Nguyễn Thành T.
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật Đất đai; Điều 105 Luật Đất đai; Điều 107 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2022/HC-ST Ngày: 24-5-2022 “V/v: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Lương Minh Trí
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Văn Thới
Ông Lê Quang Diệu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Vệ - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An: Bà Nguyễn Thị Duyên
- Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thụ lý số 64/2022/TLST-HC ngày 09 tháng 3 năm 2022 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2022/QĐST-HC ngày 11 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1982;
Người đại diện theo ủy quyền của ông T là bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1964; Cùng địa chỉ: Số 181 đường H, Tổ 11, khu phố 5, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Văn Quang H - Chủ tịch;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đào Hữu T - Phó Chủ tịch;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1957; Địa chỉ: Số 181 đường H, Tổ 11, khu phố 5, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
(Ông V, bà H có mặt; ông T có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, lời trình bày trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa của người khởi kiện có nội dung như sau:
Ông Nguyễn Thành T khởi kiện yêu cầu Tòa án tỉnh Long An: Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 346250 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Thành T ngày 08/3/2010 đối với thửa đất 2873, tờ bản đồ số 03, tại Ấp 5, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Lý do: Nguồn gốc thửa đất 2873 là ông nhận chuyển nhượng từ ông Giang Văn S, nhưng khi tách từ thửa 893 của ông S sang cho ông thì bị nhầm vị trí, nên thửa đất 2873 hiện ông V đang quản lý sử dụng, thực tế ông mua của ông S là phần đất trống kế bên phần đất của ông V còn phần đất ông đang sử dụng thì chưa được cấp giấy cho ai. Năm 2021 ông kiểm tra lại giấy tờ thì phát hiện đất ông đứng tên ông V đang sử dụng. Ông đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 2873 ông đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng để ông được đăng ký cấp lại cho đúng vị trí thực tế sử dụng.
Tại Văn bản số 2829/UBND-NC ngày 10/5/2022 của người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện C có nội dung:
Ngày 08/3/2010, Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 346250 cho ông Nguyễn Thành T đối với thửa đất 2873, tờ bản đồ số 03, tại Ấp 5, xã T, huyện C, tỉnh Long An là trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Giang Văn S, bà Nguyễn Thị X với ông Nguyễn Thành T, được Phòng công chứng số 02 tỉnh Long An chứng thực ngày 03/02/2010, số công chứng 1320, Quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD. Việc người khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 346250 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Thành T ngày 08/3/2010 đối với thửa đất 2873, tờ bản đồ số 03, tại Ấp 5, xã T, huyện C, tỉnh Long An. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Long An giải quyết vụ án trên theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn V trình bày: Ông đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông T, vì đất cấp bị sai vị trí sử dụng đất, đất ông sử dụng nhưng ông T đứng tên.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo qui định của Luật Tố tụng Hành chính.
Về nội dung: Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T số BA 346250 đối với thửa đất 2873, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại Ấp 5, xã T, huyện C, tỉnh Long An trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng từ ông Sáu sang cho ông T. Tuy nhiên khi xét cấp Ủy ban nhân dân huyện C không xem xét hiện trạng, thực tế sử dụng nên phần đất Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T hiện ông V đang quản lý sử dụng. Nội dung này được chứng minh qua lời trình bày của ông T, ông V và biên bản xem xét thẩm định tại chổ của Tòa án nhân dân tỉnh Long An. Như vậy, Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T thửa đất 2873 là không đúng vị trí, không đúng đối tượng sử dụng đất, nên yêu cầu khởi kiện của ông T là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của ông T.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng và ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Nguyễn Thành T yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số số BA 346250 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Thành T ngày 08/3/2010 đối với thửa đất 2873, tờ bản đồ số 03, tại Ấp 5, xã T, huyện C, tỉnh Long An. Đây khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng Hành chính.
Về thời hiệu khởi kiện: Năm 2021, ông Nguyễn Thành T kiểm tra lại giấy tờ, thì ông phát hiện phần đất ông đang sử dụng chưa được cấp giấy cho ai, còn phần đất ông được cấp giấy là thửa 2873 do ông V đang quản lý sử dụng. Ông có gửi đơn đến Ủy ban nhân dân huyện C, ngày 02/12/2021 Ủy ban nhân dân huyện C có văn bản số 9711/UBND-TD hướng dẫn ông khởi kiện tại Tòa án. Ngày 20/12/2021, ông T nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An là trong thời hiệu, vì vậy Tòa án thụ lý giải quyết là đúng qui định tại Điều 116 của Luật Tố tụng Hành chính.
Về việc tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và đối thoại: Tòa án đã có thông báo cho các đương sự nhưng người bị kiện có đơn đề nghị vắng mặt, người khởi kiện có đơn đề nghị không tiến hành đối thoại, nên Tòa án lập biên bản về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản không tiến hành đối thoại được theo quy định của Điều 135, 137 Luật Tố tụng Hành chính.
Người đại diện của người bị kiện ông Đào Hữu T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 158 Luật Tố tụng Hành chính Tòa án nhân dân tỉnh Long An tiến hành xét xử vắng mặt ông Tấn là phù hợp.
Về hình thức và thẩm quyền ban hành quyết định: Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Thành T ngày 08/3/2010 đối với thửa đất 2873, tờ bản đồ số 03, tại Ấp 5, xã T, huyện C, tỉnh Long An trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Giang Văn S, bà Nguyễn Thị X với ông Nguyễn Thành T, được Phòng công chứng số 02 tỉnh Long An chứng thực ngày 03/02/2010, số công chứng 1320, Quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD. Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Thành T là đúng quy định về hình thức, thẩm quyền, trình tự thủ tục ban hành quyết định theo quy định của Luật đất đai năm 2003.
Về nội dung của quyết định hành chính: Thửa đất 2873, tờ bản đồ số 03, tại Ấp 5, xã T, huyện C, tỉnh Long An đã được Ủy ban nhân dân huyện C giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 03/02/2010 cho ông Nguyễn Thành T, nhưng thực tế phần đất này ông V trực tiếp sử dụng, khi Ủy ban nhân dân huyện C tách thửa 2873 từ thửa 893 đã không kiểm tra thực tế, dẫn đến tách sai vị trí, phần đất ông T nhận chuyển nhượng và đang sử dụng chưa được cấp giấy cho ai, nhưng Ủy ban nhân dân huyện C đã tách thửa 2873 là thửa đất ông V đang quản lý sử dụng, nội dung này được chứng minh qua lời khai ông V, ông T, ông S và biên bản xem xét thẩm định tại chổ của Tòa án nhân dân tỉnh Long An vào lúc 13 giờ 45 phút ngày 17/3/2022.
Như vậy, có cơ sở xác định Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa đất 2873, tờ bản đồ số 03, tại Ấp 5, xã T, huyện C, tỉnh Long An cho ông Nguyễn Thành T là không đúng đối tượng, vị trí sử dụng đất, là trái với quy định Điều 10, Điều 49, Điều 50, Điều 105, Điều 107 Luật Đất đai năm 2003. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành T là có căn cứ nên được chấp nhận, như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tại phiên tòa.
Về chi phí tố tụng và án phí:
Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.600.000 đồng. Ông T đã nộp và tự nguyện chịu toàn bộ chi phí này nên ghi nhận là phù theo khoản 1 Điều 357, 358 Luật Tố tụng Hành chính.
Về án phí: Ông Nguyễn Thành T không phải chịu án phí. Ủy ban nhân dân huyện C phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định của Điều 348 Luật Tố tụng Hành chính và Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 193; Điều 348, Điều 357, Điều 358 Luật Tố tụng Hành chính;
Căn cứ Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hôi .
Căn cứ Điều 10, Điều 49, Điều 50, Điều 105, Điều 107 Luật Đất đai năm 2003;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ông Nguyễn Thành T.
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 346250 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Thành T ngày 08/3/2010 đối với thửa đất 2873, tờ bản đồ số 03, tại Ấp 5, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
2. Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của Ông Nguyễn Thành T chịu 2.600.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, (ông T đã nộp xong).
3. Về án phí: Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An phải nộp 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Nguyễn Thành T 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000248 ngày 07/3/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Long An.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Long An; - Cục THADS tỉnh Long An; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Minh Trí |