- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng B (B).
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 45/2022/DS-ST Ngày: 23/9/2022 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Hữu Trí;
2. Bà Mai Hồng Thắm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tố Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 59/2022/TLST-DS ngày 04 tháng 5 năm 2022 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 196/2022/QĐXX-ST ngày 23 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số: 167/2022/QĐST-DS ngày 06 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng B (B);
Trụ sở: Tháp BI, số 194, đường Trần Quang Kh, quận Hoàng K, thành phố H.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T – chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn Bé T1 – chức vụ: Giám đốc Ngân hàng B – chi nhánh An Giang; Địa chỉ: số 185 L, khóm 5, phường M, thành phố L, tỉnh A. (Theo Văn bản uỷ quyền số 545/2020/QĐ-B ngày 22/6/2021)
Ông Nguyễn Văn Bé T1 uỷ quyền lại cho:
- Ông Nguyễn Sơn H- chức vụ: Chuyên viên Phòng Quản lý rủi ro - Ngân hàng B – chi nhánh An Giang; (có đơn đề nghị xét xử mặt)
- Ông Nguyễn Phước Đ – chức vụ: Chuyên viên Phòng Quản lý khách hàng
- Ngân hàng B, chi nhánh An Giang – PGD Châu Thành. (vắng mặt)
2. Bị đơn:
2.1 Bà Nguyễn Thị Phương H2, sinh năm 1980; (vắng mặt)
2.2 Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1975; (vắng mặt)
Cùng cư trú: tổ 12, ấp Hòa L, thị trấn An Ch, huyện Ch, tỉnh A.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn Ngân hàng B (B) do ông Nguyễn Sơn Hlàm đại diện theo ủy quyền trình bày:
Vào ngày 03/10/2014, giữa Ngân hàng TMCP Phát triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long – chi nhánh An Giang nay là Ngân hàng B (B) chi nhánh An Giang với bà Nguyễn Thị Phương H2 và ông Nguyễn Văn Th có ký kết hợp đồng tín dụng số TF.0423.14/HĐTD về việc Ngân hàng cho bà Nguyễn Thị Phương H2 vay tiền với các nội dung sau đây:
- Số tiền vay: 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng).
- Thời hạn vay: 48 tháng, từ ngày 03/10/2014 đến ngày 03/10/2018.
- Mục đích vay: tiêu dùng (sửa chữa nhà ở và mua sắm vật dụng trong gia đình).
- Lãi suất cho vay trong hạn: 12%, lãi suất cố định. Lịch trả nợ gốc và lãi bằng nhau chia 47 kỳ, từ ngày 20/11/2014 đến ngày 20/9/2018, mỗi kỳ trả 1.700.000 đồng và kỳ cuối vào ngày 03/10/2018 trả gốc 100.000 đồng, lãi theo dư nợ thực tế, định kỳ trả gốc lãi vào ngày 25 hàng tháng (lịch trả nợ theo hợp đồng tín dụng).
- Lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất trong hạn.
- Lãi vay được bên vay trả: Trùng với ngày trả nợ gốc.
Ngày 03/10/2014, bà Nguyễn Thị Phương H2 và ông Nguyễn Văn Th nhận đủ số tiền vay: 800.000.000 đồng. Tính đến ngày 18/01/2022, bà Nguyễn Thị Phương H2 đã trả số tiền gốc là 65.139.500 đồng. Từ ngày 24/9/2019 đến nay bà Nguyễn Thị Phương H2 không thực hiện trả nợ cho Ngân hàng theo hợp đồng đã ký kết.
Ngân hàng B (B) khởi kiện yêu cầu Toà án: Buộc bà Nguyễn Thị Phương H2 và ông Nguyễn Văn Th phải chịu trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam do Ngân hàng B – chi nhánh An Giang đại diện nhận tổng số tiền đến ngày 09/6/2022 là 31.234.113 đồng bao gồm tiền vốn gốc là 14.860.500 đồng và tổng số tiền lãi tạm tính đến ngày 09/6/2022 là 16.373.613 đồng và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số TF.0423.14/HĐTD ngày 03/10/2014 trên số dư nợ chưa thanh toán cho đến khi thi hành án xong.
* Toà án đã nhiều lần triệu tập bị đơn bà Nguyễn Thị Phương H2 và ông Nguyễn Văn Th để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, cũng như tham gia phiên toà nhưng bà Hồng, ông Thuận đều vắng mặt không có lý do, đồng thời cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn. Toà án đã tiến hành các thủ tục xác minh, lấy lời khai bị đơn tại nơi cư trú nhưng bà Hồng, ông Thuận không có mặt ở nhà khi cán bộ Toà án đến, nên Toà án không lấy được lời khai của bị đơn.
Tại phiên tòa,
- Đại diện nguyên đơn ông Nguyễn Sơn Hcó đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà Nguyễn Thị Phương H2 và ông Nguyễn Văn Th trả cho Ngân hàng B (B) số tiền vốn gốc là 14.860.500 đồng và lãi tính đến ngày 23/9/2022 là 17.131.691 đồng, bao gồm lãi trong hạn là 13.683.597 đồng và lãi quá hạn là 3.448.094 đồng, tiếp tục tính lãi theo hợp đồng: TF.0423.14/HĐTD ngày 03/10/2014 đối với nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi tất toán xong toàn bộ khoản nợ.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị Phương H2, ông Nguyễn Văn Th vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.
+ Về việc giải quyết vụ án: bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng B (B), do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Phương H2 và ông Nguyễn Văn Th phải trả số tiền gốc là 14.860.500 đồng và tính lãi theo quy định pháp luật. Về án phí, hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng B số tiền tạm ứng án phí đã nộp, bị đơn bà Hồng, ông Thuận phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự thì tranh chấp giữa Ngân hàng B (B) và bà Nguyễn Thị Phương H2, ông Nguyễn Văn Th được xác định là tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Về thẩm quyền giải quyết: bà Nguyễn Thị Phương H2, ông Nguyễn Văn Th hiện có nơi cư trú tại tổ 12, ấp Hòa Long III, thị trấn An Châu, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang, căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Về sự vắng mặt của đương sự:
Ngày 20/9/2022, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn – ông Nguyễn Sơn Hcó đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt, bị đơn bà Nguyễn Thị Phương H2, ông Nguyễn Văn Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 227, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.
Về áp dụng pháp luật nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng B (B) thấy:
Về nghĩa vụ trả nợ:
Căn cứ hợp đồng tín dụng số TF.0423.14/HĐTD ngày 03/10/2014 có chữ ký của ông Phạm Xuân Đông - đại diện Ngân hàng TMCP Phát triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long – chi nhánh An Giang nay là Ngân hàng B (B) và bà Nguyễn Thị Phương H2 và ông Nguyễn Văn Th, có đủ cơ sở xác định giữa Ngân hàng B (B) chi nhánh An Giang với bà Nguyễn Thị Phương H2 và ông Nguyễn Văn Th có xác lập hợp đồng vay tài sản vào ngày 03/10/2014 với số tiền vay: 80.000.000 đồng; Thời hạn vay: 48 tháng, từ ngày 03/10/2014 đến ngày 03/10/2018; Mục đích vay: tiêu dùng (sửa chữa nhà ở và mua sắm vật dụng trong gia đình); Lãi suất cho vay trong hạn: 12%, lãi suất cố định; Lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; phương thức trả nợ là trả vốn gốc và lãi hàng tháng. Xét thấy, sự thoả thuận giữa Ngân hàng B và bà Hồng, ông Thuận là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung của thoả thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên được xem là hợp pháp, qua đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Quá trình thực hiện hợp đồng thì bà Hồng, ông Thuận đã trả được số tiền gốc là 65.139.500 đồng thì ngưng thanh toán. Tính từ ngày 24/9/2019 đến nay bà Hồng, ông Thuận không thực hiện trả nợ cho Ngân hàng. Việc bà Hồng, ông Thuận không trả tiền vay cho Ngân hàng B đã vi phạm thoả thuận, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng B, do đó việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền gốc là 14.860.500 đồng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những nhận định trên, căn cứ vào Điều 463, khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng B, buộc bà Hồng, ông Thuận có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng B số tiền là 14.860.500 đồng.
Về lãi suất:
Căn cứ hợp đồng cho vay số TF.0423.14/HĐTD ngày 03/10/2014 giữa Ngân hàng B và bà Hồng, ông Thuận xác định lãi suất thỏa thuận là 12%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Quá trình thực hiện hợp đồng bà Hồng, ông Thuận thanh toán nợ gốc và nợ lãi được 38 kỳ thì vi phạm hợp đồng, nay Ngân hàng B yêu cầu tính lãi theo thỏa thuận từ ngày 24/9/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm 23/9/2022 với số tiền 17.131.691 đồng, bao gồm lãi trong hạn là 13.683.597 đồng và lãi quá hạn là 3.448.094 đồng, đồng thời tiếp tục tính lãi trên nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi thỏa thuận từ ngày xét xử đến khi bà Hồng, ông Thuận thanh toán xong toàn bộ số nợ là phù hợp với quy định tại Điều 357 và khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên Ngân hàng B được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Bị đơn bà Hồng, ông Thuận phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 31.992.191 đồng x 5% = 1.599.609 đồng.
Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 357, Điều 463, khoản 1 Điều 466, khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự;
Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng B (B).
Buộc bà Nguyễn Thị Phương H2 và ông Nguyễn Văn Th có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng B (B) số tiền vốn gốc là 14.860.500 đồng (Mười bốn triệu, tám trăm sáu mươi nghìn, năm trăm đồng) và tiền lãi là 17.131.691 đồng (Mười bảy triệu, một trăm ba mươi mốt ngàn, sáu trăm chín mươi mốt đồng). Tổng số tiền vốn gốc và lãi phải trả tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (23/9/2022) là 31.992.191 đồng (Ba mươi mốt triệu, chín trăm chín mươi hai ngàn, một trăm chín mươi mốt đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền vốn gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho vay số TF.0423.14/HĐTD ngày 03/10/2014.
2. Về án phí sơ thẩm:
- Ngân hàng B (B) được nhận lại số tiền 754.000 đồng (Bảy trăm năm mươi bốn ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005001 ngày 29/4/2022 Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Bà Nguyễn Thị Phương H2 và ông Nguyễn Văn Th phải chịu 1.599.609 đồng (Một triệu, năm trăm chín mươi chín ngàn, sáu trăm lẻ chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Ngân hàng B (B) và bà Nguyễn Thị Phương H2, ông Nguyễn Văn Th được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh An Giang;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Châu Thành;
- Chi cục THADS huyện Châu Thành;
- Các đương sự;
- Phòng KTNV & THA;
- Lưu HS, VP.
Ngô Thị Kim Quyên ................................................................................................................................. (29 ) Hướng dẫn sử dụng mẫu số 52-DS: Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự. Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Toà án khi xét xử sơ thẩm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án sơ thẩm kèm theo: (1) Nếu là Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi rõ tên Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Toà án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội); nếu là Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi Toà án nhân dân tỉnh (thành phố) đó (ví dụ: Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam). (2) Ô thứ nhất ghi số bản án, ô thứ hai ghi năm ra bản án, ô thứ ba ghi ký hiệu loại bản án (ví dụ: Nếu là bản án giải quyết tranh chấp về dân sự năm 2017 có số 100 thì ghi: “Số:100/2017/DS-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình năm 2017 có số 108 thì ghi: “Số:108/2017/HNGĐ-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại năm 2017 có số 110 thì ghi: “Số:110/2017/KDTM-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về lao động năm 2017 có số 115 thì ghi: “Số:115/2017/LĐ-ST”). (3) Ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày. (4) Ghi quan hệ tranh chấp mà Tòa án giải quyết: Cần xác định tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết được quy định tại Điều, khoản nào của Bộ luật tố tụng dân sự, để ghi vào phần trích yếu của bản án (ví dụ: Tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết là tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân được quy định tại khoản 1 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thì ghi: “tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân”). (5) Ghi như hướng dẫn tại điểm (1). (6) Nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà, bỏ dòng “Thẩm phán...”, đối với Hội thẩm nhân dân chỉ ghi họ tên của hai Hội thẩm nhân dân; nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân. Cần chú ý là không ghi chức vụ của Thẩm phán; chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân. (7) Ghi họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1). (8) Nếu có Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà thì ghi như hướng dẫn tại điểm (1) song đổi các chữ “Toà án nhân dân” thành “Viện kiểm sát nhân dân”. (9) Trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ “Trong các” (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi “Trong các ngày” (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi: “Từ ngày đến ngày” (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017). (10) Nếu xét xử kín thì thay cụm từ “công khai” bằng từ “kín”. (11) Ô thứ nhất ghi số thụ lý, ô thứ hai ghi năm thụ lý và ô thứ ba nếu là tranh chấp về dân sự thì ghi “DS”; nếu là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thì ghi “HNGĐ”; nếu là tranh chấp về kinh doanh, thương mại thì ghi “KDTM”; nếu là tranh chấp về lao động thì ghi “LĐ” (ví dụ: số 18/2017/TLST-HNGĐ). (12) Ghi như hướng dẫn tại điểm (4). (13) Nguyên đơn là cá nhân thì ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên). Nguyên đơn là cơ quan, tổ chức thì ghi tên cơ quan, tổ chức và địa chỉ của cơ quan, tổ chức đó. (14) Chỉ ghi khi có người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và ghi họ tên, địa chỉ cư trú; ghi rõ là người đại diện theo pháp luật hay là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn; nếu là người đại diện theo pháp luật thì cần ghi chú trong ngoặc đơn quan hệ giữa người đó với nguyên đơn; nếu là người đại diện theo uỷ quyền thì cần ghi chú trong ngoặc đơn: “văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...”. Ví dụ 1: Ông Nguyễn Văn A trú tại... là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Giám đốc Công ty TNHH Thắng Lợi). Ví dụ 2: Bà Lê Thị B trú tại... là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...). (15) Chỉ ghi khi có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là Luật sư thì ghi là Luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào); nếu có nhiều nguyên đơn thì ghi cụ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn nào. (16) và (19) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (13). (17) và (20) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (14). (18) và (21) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (15). (22) Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên). (23) Ghi họ tên, chức danh, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú). (24) Ghi họ tên, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú). (25) Trong phần này ghi rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, của cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; ý kiến của Viện kiểm sát; ghi ngắn gọn, đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, tình tiết của vụ án; ghi rõ các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, các tình tiết mà các bên đã thống nhất, không thống nhất; đối với các tình tiết của vụ án mà các bên không thống nhất thì phải ghi rõ lý lẽ, lập luận của từng bên đương sự.
(26) Ghi nhận định của Tòa án về những vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án (về áp
dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung). Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về chứng cứ và những tình tiết của vụ án; phân tích, viện dẫn những căn cứ pháp luật, án lệ (nếu có) để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự; yêu cầu, đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (nếu có); yêu cầu, đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát (nếu có); giải quyết các vấn đề khác có liên quan. Nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật tố tụng dân sự thì tùy từng trường hợp mà Tòa án phân tích, lập luận về việc áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng.
Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ tự trong dấu [ ]. (27) Tùy từng trường hợp mà ghi rõ các căn cứ pháp luật để ra quyết định. (28) Ghi các quyết định của Tòa án về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó. Đối với trường hợp xét xử sơ thẩm lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì ghi vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành (nếu có) theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy; trường hợp có quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự thì phải ghi rõ nội dung về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án. (29) Phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi rõ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát thì ghi như sau:
| Nơi nhận: Ghi những nơi mà Toà án cấp sơ thẩm phải giao hoặc gửi bản án theo quy định tại Điều 269 của Bộ luật tố tụng dân sự và những nơi cần lưu bản án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |