vanban.org

Bản án 45/2022/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TAND tỉnh An Giang Tuyên án 18/03/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/03/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Hồ Ngọc K. Giữ

nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 89/2021/D - T ng y 15 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Châu hú, tỉnh An Giang. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Khanh + Long"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Hồ Ngọc K. Giữ
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2022/DS-PT
Ngày 18-3-2022
V/v “Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng QSD đất,
tranh chấp D đất v bồi
thường thiệt hại về t i sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Khưu Để D nh

Các Thẩm phán:

Ông Trương Văn Hai

Ông Nguy n Ho ng Thám

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguy n Thanh Tuyền - Thư ký Tòa án nhân dân

tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:

Ông Đ hư c Th nh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét

xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 167/2021/TLPT-DS ngày 13 tháng 8 năm

2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh

chấp quyền sử dụng đất v bồi thường thiệt hại về t i sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 89/2021/DS-ST ngày 15 tháng 4 năm 2021

của To án nhân dân huyện Châu hú, tỉnh An Giang bị kháng cáo.

Theo uyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 27/2022/ ĐXXPT-DS

ngày 18 tháng 02 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Hồ Ngọc K, sinh năm 1959 (có mặt), bà Nguy n Thị Lệ

T, sinh năm 1964 (vắng mặt); cùng cư trú: Ấp B, xã Bình T, huyện C, tỉnh An

Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của b Nguy n Thị Lệ T (Giấy ủy quyền ng y

13/11/2019): Ông Hồ Ngọc K, sinh năm 1959; cư trú: Ấp B, xã Bình T, huyện C,

tỉnh An Giang (có mặt).

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà Nguy n Thị Lệ T: B Văng

Thị Vân l Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nh nư c (có

mặt).

2. Bị đơn: Ông hạm Thanh L, sinh năm 1967 (vắng mặt), bà Nguy n Kim

P, sinh năm 1973 (có mặt); cùng cư trú: Ấp 2, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của ông hạm Thanh L (Giấy ủy quyền ng y

09/9/2019): Bà Nguy n Kim , sinh năm 1973; cư trú: Ấp 2, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

3. Người kháng cáo: Ông Hồ Ngọc K là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn kh i ki n, ời khai trong quá tr nh gi i quy t và t i phiên tòa

nguyên đơn ông Hồ Ngọc K, bà Nguyễn Thị L T (do ông K đ i di n trình bày:

Ng y 29/8/2017, vợ chồng ông b chuyển nhượng cho vợ chồng ông hạm

Thanh L bà Nguy n Kim P D đất diện tích đất 8.960m2, gồm các thửa số 21, 22 thuộc tờ bản đồ số 55, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE30886g ng y 26/10/2016, đất tọa lạc tại xã Bình Mỹ, huyện Châu hú, tỉnh An Giang. Giá chuyển nhượng l 100.000.000đồng/1.296m2, tương đương giá chuyển nhượng l 691.358.000 đồng (Trong hợp đồng ghi 350.000.000 đồng, ông L và bà P kê khai thấp nhằm giảm thuế). Ông b đã giao đất nhưng vợ chồng ông L b hượng còn nợ lại số tiền 11.358.000 đồng.

Ngo i ra, khi nhận đất vợ chồng ông L b hượng còn chiếm luôn phần đất

khoảng 300m2 của vợ chồng ông b , phần đất n y chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trên đất có nhiều cây lâu năm v cây ăn trái như: Xo i, còng, dừa, chuối; ông L b hượng đã chặt, đốn cây trồng của ông b .

Ông K b Thủy yêu cầu giải quyết: Buộc ông L bà P phải trả số tiền còn nợ

lại l 11.358.000 đồng; trả lại phần đất 300m2 tọa lạc tại Bình Mỹ mà ông L bà P đã chiếm; bồi thường thiệt hại giá trị các cây trồng theo giá Hội đồng định giá đã định, gồm: 01 cây còng 2.000.000 đồng, 04 cây xoài 9.600.000 đồng, 12 cây dừa 11.700.000 đồng, 19 bụi chuối 1.520.000 đồng, tổng cộng l 24.820.000 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm ông K đã nhận số tiền 11.358.000 đồng do ông L b

hượng trả; ông K rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu ông L bà P trả số tiền 11.358.000 đồng.

Bị đơn ông h m Thanh L do à hư ng đ i di n , bà Nguyễn Kim trình

bày:

Vợ chồng b nhận chuyển nhượng QSD đất của ông K bà T, theo thỏa

thuận l giấy chứng nhận QSD đất của ông K bà T bao nhiêu thì chuyển nhượng lại cho vợ chồng b bấy nhiêu, vợ chồng b to n quyền đi l m thủ tục sang tên chuyển nhượng, vợ chồng ông K b Thủy giao giấy chứng nhận QSD đất cho vợ chồng b tự thực hiện thủ tục sang tên chuyển nhượng đúng theo phần đất m ông K bà T được cấp giấy chứng nhận. Về giá cả chuyển nhượng thì đúng như giá m ông K trình bày. Theo thỏa thuận thì ông K b Thủy phải nộp tiền đê bao nhưng ông K không nộp tiền đê bao, vợ chồng b phải nộp nên vợ chồng b chưa thanh toán cho ông K b Thủy số tiền 11.358.000 đồng. Khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án thì vợ chồng b đã trả đủ số tiền 11.358.000 đồng cho ông K nên không đồng yêu cầu của ông K bà T.

Đối v i yêu cầu đòi đất vợ chồng b cho rằng nếu Tòa án tiến h nh đo đạc

m thể hiện vợ chồng b có chiếm đất hơn phần đất m vợ chồng b nhận chuyển

nhượng thì vợ chồng b đồng ý trả thêm tiền theo giá Hội đồng định giá đã định,

nhưng khi Tòa án đo đạc thì vợ chồng b không có chiếm đất nên không chấp nhận

việc đòi đất của ông K bà T.

Đối v i phần yêu cầu bồi thường thiệt hại về cây trên đất bờ đê, vợ chồng b

cũng không đồng ý do vợ chồng b nghĩ l đất đã chuyển nhượng cho vợ chồng b

nên vợ chồng b to n quyền đối v i các cây trên đất bờ đê giáp ranh đất của vợ

chồng b ; vợ chồng b cũng đã trồng rất nhiều cây trên phần đất n y, các cây mà

ông K, bà T yêu cầu bồi thường đã hư vợ chồng b chặt bỏ cho từ thiện chứ vợ

chồng b không có sử dụng v cũng không có bán. Không đồng ý to n bộ yêu cầu

bồi thường về t i sản của ông K bà T.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 89/2021/DS-ST ngày 15 tháng 4 năm 2021 của

Toà án nhân dân huyện Châu hú, tỉnh An Giang, quyết định:

Căn cứ v o khoản 3, 6, 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1

Điều 39; khoản 2 Điều 86; khoản 1 v khoản 4 Điều 91; khoản 1 Điều 147; khoản

1 Điều 157; khoản 1 Điều 165; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng

dân sự; Điều 584, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 của Nghị quyết số

326/2016/UBTV H14 ng y 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, mi n,

giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn ông Hồ Ngọc K, bà Nguy n Thị Lệ T đòi

bị đơn ông hạm Thanh L, bà Nguy n Kim trả số tiền 11.358.000 đồng.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Ngọc K, bà Nguy n Thị

Lệ T đối v i ông hạm Thanh L, bà Nguy n Kim :

- Không chấp nhận yêu cầu của ông Hồ Ngọc K, bà Nguy n Thị Lệ T về

việc đòi ông hạm Thanh L, bà Nguy n Kim phải trả 300m2 đất tọa lạc tại xã

Bình Mỹ, huyện Châu hú, tỉnh An Giang.

- Buộc ông hạm Thanh L, bà Nguy n Kim phải bồi thường thiệt hại cho

ông Hồ Ngọc K, bà Nguy n Thị Lệ T số tiền 24.820.000 đồng.

Ngo i ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ

thẩm, quyền kháng cáo v quyền, nghĩa vụ trong thi h nh án dân sự.

Ngày 27 tháng 4 năm 2021, nguyên đơn ông Hồ Ngọc K có đơn kháng cáo

to n bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 89/2021/DS-ST ngày 15 tháng 4 năm 2021 của

Toà án nhân dân huyện Châu hú, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông K xác định chỉ kháng cáo đối v i nội dung bản

án sơ thẩm tuyên “Không chấp nhận yêu cầu của ông Hồ Ngọc K, bà Nguy n Thị

Lệ T về việc đòi ông hạm Thanh L, bà Nguy n Kim phải trả 300m2 đất tọa lạc

tại xã Bình Mỹ, huyện Châu hú, tỉnh An Giang”, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm

xem xét chấp nhận yêu cầu của ông vì ông chỉ chuyển nhượng diện tích D đất

trên giấy cho ông L b hượng; các nội dung khác của bản án sơ thẩm ông thống

nhất kháng cáo.

B Văng Thị Vân bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà Nguy n Thị Lệ T

phát biểu tranh luận cho rằng: Mặc dù Công văn số 111/UBND-TD ng y 23 tháng 02 năm 2021 của y ban nhân dân huyện Châu hú trả lời diện tích đất 363m2 theo bản đồ hiện trạng ng y 14/7/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện Châu Phú thuộc rạch Thầy hó, nằm trong biên sông rạch do Nh nư c quản lý v thuộc trường hợp không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nhưng phần đất n y ông K bà T đã sử dụng trư c chuyển nhượng phần đất cho ông L b hượng. Do đó, yêu cầu chấp nhận kháng cáo của ông K.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân

theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tuân thủ pháp luật tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền v nghĩa vụ theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ

khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của ông K, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 89/2021/D - T ng y 15 tháng 4 năm 2021 của To án nhân dân huyện Châu hú, tỉnh An Giang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Nguyên đơn ông Hồ Ngọc K nộp đơn kháng cáo, nộp tạm ứng án phí

phúc thẩm trong thời hạn quy định tại Điều 273, Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được chấp nhận xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Bà Nguy n Thị Lệ T vắng mặt có ủy quyền cho ông Hồ Ngọc K có măt

tham gia tố tụng, ông hạm Thanh L vắng mặt có ủy quyền cho b Nguy n Kim P có mặt tham gia tố tụng; do đó, tiến h nh xét xử theo quy định.

Xuất phát từ hợp đồng chuyển nhượng D đất ng y 29/8/2017, theo đó

vợ chồng ông K b Thủy chuyển nhượng cho vợ chồng ông L bà P D đất diện tích đất 8.960m2, gồm các thửa số 21, 22 thuộc tờ bản đồ số 55, đất tọa lạc tại xã Bình Mỹ, huyện Châu hú, tỉnh An Giang.

Ng y 11/9/2017, ông L b hượng được ở T i nguyên v Môi trường cấp

giấy chứng nhận D đất số C 05158, thuộc tờ bản đồ 55, số thửa 21, 22, diện tích 8.960m2, loại đất trồng lúa.

Vợ chồng ông K b Thủy cho rằng khi nhận đất vợ chồng ông L b hượng

còn chiếm luôn phần đất khoảng 300m2 của vợ chồng ông b (phần đất n y chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) nên khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông L b hượng trả lại.

Tòa án cấp sơ thẩm quyết định không chấp nhận yêu cầu của ông K bà T về

việc đòi ông L bà P phải trả 300m2 đất tọa lạc tại xã Bình Mỹ, huyện Châu hú, tỉnh An Giang. Ông K kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận yêu cầu của ông.

Những nội dung khác của bản án sơ thẩm ông K không kháng cáo Hội

đồng xét xử không xem xét.

Xét nội dung kháng cáo của ông K yêu cầu cấp phúc thẩm chấp nhận yêu

cầu của ông K bà T đòi ông L bà P phải trả 300m2 đất tọa lạc tại xã Bình Mỹ,

huyện Châu hú, tỉnh An Giang.

Căn cứ các t i liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v kết quả tranh tụng tại phiên

tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy:

Tại bản đồ hiện trạng ng y 14/7/2020 do Văn phòng Đăng ký đất đai -

chi nhánh Châu hú lập (Bút lục 35,36), thể hiện các điểm 1,15,16,17,18 (do ông

K chỉ d n đo) l phần đất tranh chấp có diện tích 414m2, trong đó:

- Phần đất trồng lên một phần thửa 21 diện tích 25m2, một phần thửa 22

diện tích 26m2 thuộc giấy chứng nhận D đất số C 05158 do ở T i nguyên v

Môi trường cấp ng y 11/9/2017 cho ông hạm Thanh L v b Nguy n Kim Thủy,

thuộc tờ bản đồ 55, số thửa 21, 22, diện tích 8.960m2, loại đất trồng lúa.

- Phần còn lại diện tích 363m2 thuộc đất rạch Thầy hó theo hệ thống bản đồ

283.

Như vậy, diện tích 300m2 m ông K bà T đòi ông L bà P trả nằm trong diện

tích 414m2 được gi i hạn bởi các điểm 1,15,16,17,18 (do ông K chỉ d n đo).

Tại Công văn số 111/UBND-TD ng y 23 tháng 02 năm 2021 của

UBND huyện Châu hú (Bút lục 62) trả lời: Diện tích đất 363m2 theo bản đồ hiện

trạng ng y 14/7/2020 của Văn phòng Đăng ký đất đai - Chi nhánh huyện Châu hú

l phần đất kênh Thầy hó nằm trong biên sông rạch do Nh nư c quản lý v

thuộc trường hợp không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Từ những phân tích tại 5.1 5.2 cho thấy ông K bà T không có

quyền sử dụng diện tích 300m2. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu

cầu của ông K b Thủy l có căn cứ đúng quy đinh Luật Đất đai năm 2013.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông K không cung cấp được chứng cứ chứng minh

ông có quyền sử dụng đất diện tích 300m2 m ông đòi ông L b hượng trả. Do đó,

không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông K.

Kháng cáo không được chấp nhận nên ông K phải chịu án phí dân sự

phúc thẩm.

V các ẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ v o khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Hồ Ngọc K. Giữ

nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 89/2021/D - T ng y 15 tháng 4 năm 2021 của

Tòa án nhân dân huyện Châu hú, tỉnh An Giang.

Căn cứ v o khoản 3, 6, 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1

Điều 39; khoản 2 Điều 86; khoản 1 v khoản 4 Điều 91; khoản 1 Điều 147; khoản

1 Điều 157; khoản 1 Điều 165; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 584, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTV H14 ng y 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn ông Hồ Ngọc K, bà Nguy n Thị Lệ T đòi

bị đơn ông hạm Thanh L, bà Nguy n Kim trả số tiền 11.358.000 đồng.

Không chấp nhận yêu cầu của ông Hồ Ngọc K, bà Nguy n Thị Lệ T về việc

đòi ông hạm Thanh L, bà Nguy n Kim phải trả 300m2 đất tọa lạc tại xã Bình Mỹ, huyện Châu hú, tỉnh An Giang.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Ngọc K, bà Nguy n Thị

Lệ T đối v i ông hạm Thanh L, bà Nguy n Kim : Buộc ông hạm Thanh L, bà Nguy n Kim phải bồi thường thiệt hại cho ông Hồ Ngọc K, bà Nguy n Thị Lệ T số tiền 24.820.000 đồng.

Về chi phí tố tụng:

- Chi phí định giá, xem xét thẩm định tại ch : Buộc ông hạm Thanh L, bà

Nguy n Kim phải ho n trả cho ông Hồ Ngọc K, bà Nguy n Thị Lệ T số tiền 1.200.000 đồng.

- Chi phí đo đạc, trích lục thông tin: Ông Hồ Ngọc K, bà Nguy n Thị Lệ T

phải chịu 2.738.000 đồng (đã nộp).

Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Hồ Ngọc K, bà Nguy n Thị Lệ T phải chịu 300.000 đồng được trừ

300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 001524 ngày 15 tháng 7 năm 2019 của Chi cục Thi h nh án dân sự huyện Châu hú.

- Ông Hồ Ngọc K, bà Nguy n Thị Lệ T được nhận lại 821.000 đồng tiền tạm

án phí đã nộp theo biên lai thu số 001523 ng y 15 tháng 7 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu hú.

- Ông hạm Thanh L, bà Nguy n Kim phải chịu 1.241.000 đồng án phí

dân sự sơ thẩm.

Kể từ ng y bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối v i các trường hợp

cơ quan thi h nh án có quyền chủ động ra quyết định thi h nh án) hoặc kể từ ng y có đơn yêu cầu thi h nh án của người được thi h nh án (đối v i các khoản tiền phải trả cho người được thi h nh án) cho đến khi thi h nh án xong, tất cả các khoản tiền, h ng tháng bên phải thi h nh án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi h nh án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi h nh theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi h nh án dân sự thì người được thi h nh án dân sự, người phải thi h nh án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi h nh án, quyền yêu cầu thi h nh án, tự nguyện thi h nh án hoặc bị cư ng chế thi h nh án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b v Điều 9 của Luật Thi h nh án dân sự; thời hiệu thi h nh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi h nh án dân sự.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Hồ Ngọc K phải chịu 300.000 đồng

được trừ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số

0008913 ng y 05/5/2021 của Chi cục Thi h nh án dân sự huyện Châu hú, tỉnh An

Giang.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ng y tuyên án.

Cỡ chữ