vanban.org

Bản án 45/2021/HSST — Hình sự

TAND TX. Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái Tuyên án 23/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phùng Đức H phạm tội: "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ Điều 12 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Phùng Đức H được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án tron… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Đức H phạm tội lửa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phùng Đức H phạm tội: "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGHĨA LỘ
TỈNH YÊN BÁI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2021/HS-ST
Ngày: 23/11/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Quốc Hưng,

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Hoàng Văn Vĩnh

2. Vũ Thanh Bình

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thúy Ngân, Thư ký tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên bái tham gia phiên tòa: ông Hà Lập Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên bái, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2021/TLST-HS ngày 01/10/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2021/QĐXXST-HS ngày 11/11/2021 đối với bị cáo: Phùng Đức H. Tên gọi khác: không. Giới tính: nam. Sinh ngày 18/11/1981 tại thị xã N, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: Bản L, xã T, thị xã N, tỉnh Yên Bái. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Mường. Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12. Con ông: Phùng Văn C, sinh năm 1958 và bà: Hà Thị S, sinh năm 1952. Vợ là: Lường Thị T, sinh năm 1985 (Đã ly hôn). Bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2016. Tiền sự: Không. Tiền án: Bị cáo có 02 tiền án:

+ Ngày 28/12/2016 bị Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái xử phạt 06 tháng 02 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Ngày 27/3/2018 bị Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm”, xử phạt 03 năm 06 tháng tù về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, ngày 21/5/2021 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/7/2021, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Yên Bái, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: anh Hà Văn H, sinh năm 1989; trú tại tổ dân phố P, thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái, vắng mặt.

Người có quyền lợi liên quan: Đinh Đức Đ, sinh năm 1988; Trú tại: tổ 5, thị trấn nông trường L, huyện V, tỉnh Yên Bái, vắng mặt.

Người làm chứng: Phạm Văn V, sinh năm 1979; Trú tại: tổ 7, thị trấn nông trường L, huyện V, tỉnh Yên Bái, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 12/7/2021, Phùng Đức H đi bộ đến nhà anh Vì Văn S, ở cùng xã chơi. Trên đường đi H nhìn thấy anh Hà Văn H, trú tại tổ dân phố P, thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Waveα, màu sơn xanh đen, BKS 21V3 - 5508 đi tới, H xin đi nhờ, anh H đồng ý. Khi đi đến ngõ nhà anh S thì H xuống xe, còn anh H điều khiển xe ra nhà văn hóa bản L, xã T để bẫy chim. Do anh S không có nhà nên H quay ra ngoài đường thì nhìn thấy anh H đang ngồi trên xe mô tô, lúc này H nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô của anh H, H nói dối anh H là xe của H ở nhà bị hết xăng và muốn mượn xe mô tô của anh H để đi mua xăng, anh H tin lời H nên đã đồng ý cho mượn xe. Sau đó H điều khiển xe mô tô của anh H đi vào trung tâm thị xã N để tìm nơi bán nhưng không được, H tiếp tục mang chiếc xe đến nhà anh Phạm Văn V, trú tại tổ 7, thị trấn Nông trường L, huyện V và nói với V là xe mô tô của em trai muốn bán. V dẫn H xuống nhà anh Đinh Đức Đ, trú tại tổ 5, thị trấn Nông trường L, huyện V. Tại đây H đã bán chiếc xe mô tô trên cho anh Đ với giá 800.000 đồng. Do H không có Chứng minh nhân dân nên anh Đ đưa trước cho H 600.000 đồng và thống nhất khi nào mang Chứng minh nhân dân đến thì trả nốt số tiền còn lại. Ngày 13/7/2021, H tự nghĩ ra số Chứng minh nhân dân rồi ghi vào một tờ giấy và đưa cho anh Đ, anh Đ đã trả nốt số tiền 200.000 đồng. Toàn bộ số tiền trên H đã chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 20/7/2021 Phùng Đức H bị bắt, tại Cơ quan điều tra đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội (BL: 80-98).

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 28/KL-HĐĐGTS ngày 20/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thị xã Nghĩa Lộ kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Waveα,, màu sơn xanh đen, BKS 21V3 - 5508 của anh Hà Văn Hiệp có trị giá thực tế là 3.000.000đ (Ba triệu đồng).

Bản cáo trạng số: 41/CT-VKS - NL ngày 01/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Nghĩa Lộ đã truy tố bị cáo Phùng Đức H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm d, khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Nghĩa Lộ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 174; Điều 38; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phùng Đức H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng trong vụ án: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Waveα, màu sơn xanh đen, BKS 21V3 - 5508; 01 chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy mang tên Hà Văn Bắc, đây là giấy tờ, tài sản hợp pháp của anh Hà Văn H. Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh H quản lý và sử dụng là hoàn toàn đúng quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thị xã Nghĩa Lộ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên đã đủ căn cứ kết luận: để chiếm đoạt được chiếc xe mô tô của anh Hà Văn H, Phùng Đức H trú tại: Bản L, xã T, thị xã N, tỉnh Yên Bái, đã chủ động đưa ra những thông tin sai sự thật là: xe của H ở nhà bị hết xăng và muốn mượn xe mô tô của anh H để đi mua xăng, anh H tin lời H nên đã đồng ý cho mượn xe, ngay sau khi mượn được xe Phùng Đức H mang đi bán cho anh Đinh Đức Đ, trú tại tổ 5, thị trấn Nông trường L, huyện V được 800.000đ. Phùng Đức H là người có đầy đủ khả năng nhận thức, biết rõ việc dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật, nhưng vì vụ lợi vẫn cố ý thực hiện. Với tài sản chiếm đoạt được là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Waveα, màu sơn xanh đen, BKS 21V3 – 5508 trị giá 3.000.000đ, trước đó ngày 27/3/2018, Phùng Đức H đã phạm tội chiếm đoạt tài sản với tình tiết tăng nặng: "tái phạm" chưa được xóa án tích, nên bị cáo đã phạm tội: "lừa đảo chiếm đoạt tài sản" với tình tiết tăng nặng định khung: "tái phạm nguy hiểm" quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ đã truy tố.

Quyền sở hữu tài sản hợp pháp của mọi tổ chức, cá nhân được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương nên cần xử lý nghiêm minh để giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Tài sản mà bị cáo chiếm đoạt có giá trị không lớn, cơ quan điều tra đã kịp thời thu hồi trả lại cho bị hại; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn” và “Thành khẩn khai báo” được quy định tại các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, được Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Về nhân thân: Phùng Đức H là thanh niên nhưng thiếu tu dưỡng rèn luyện, nghiện ma túy, bản thân đã có hai tiền án về các tội phạm chiếm đoạt tài sản, ngày 21/5/2021 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện bản thân. Ngoài hành vi phạm tội này bị cáo còn đang bị cơ quan điều tra công an huyện M, tỉnh Yên Bái điều tra về hành vi chiếm đoạt tài sản. Thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu.

Với tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên. Hội đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, với mức hình phạt tương xứng đối với mức độ phạm tội của bị cáo, để giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, đồng thời răn đe, giáo dục đối với những người khác có ý thức tôn trọng pháp luật và công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn - xã hội tại địa phương.

Xét bị cáo Phùng Đức H sống phụ thuộc vào gia đình, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Các vấn đề khác:

- Vật chứng trong vụ án: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Waveα, màu sơn xanh đen, BKS 21V3 - 5508; 01 chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy mang tên Hà Văn B, đây là giấy tờ, tài sản hợp pháp của anh Hà Văn H. Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh H quản lý và sử dụng là có căn cứ.

-Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại: anh Hà Văn H đã nhận lại tài sản và không đề nghị bị cáo phải bồi thường; người có quyền lợi liên quan: anh Đinh Đức Đ không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả, nên trách nhiệm dân sự đối với bị cáo không đặt ra.

- Về án phí: do bị cáo Phùng Đức H thuộc hộ cận nghèo nên bị cáo được miễn án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Trong vụ án này còn có anh Phạm Văn V là người đưa H đi bán chiếc xe mô tô; anh Đinh Đức Đ là người đã mua chiếc xe mô tô mà Phùng Đức H chiếm đoạt, nhưng không biết đây là tài sản do phạm tội mà có, nên không đề cập xử lý là có căn cứ.

Những kết luận và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phùng Đức H phạm tội: "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"

1. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 174; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phùng Đức H 02 (Hai) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 20/7/2021.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ Điều 12 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Phùng Đức H được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

3. Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án; người có quyền lợi liên quan: Đinh Đức Đ có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyến lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ