vanban.org

Bản án 45/2021/HSST — Hình sự

TAND TX. An Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 29/08/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ lu t hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ 06 (sáu) tháng t nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách à 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Tiến Đ cho UBND xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định à nơi ị cáo cư trú để giám sát,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tiến Đạt phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ lu t hình sự năm 2015.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ A
TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bản án số: 45/2021/HS-ST
Ngày: 28-9-2021

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Văn Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Hữu Nhàn

2/ Ông Đặng Hồng Ngọc

- Thư ký phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Thu –Thư ký Tòa án nhân dân thị xã A.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hướng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã A xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/2021/TLST- HS ngày 14 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2021, đối với bị cáo:

Nguyễn Tiến Đ; Sinh ngày 04/4/1994; tại: thị xã A, tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: thôn V, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: thợ tiện gỗ; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M (chết) và bà Dương Thị C, sinh năm 1964; vợ tên Huỳnh Thị Mỹ T, sinh năm 1994; con: có 01 người sinh ngày 13/8/2020; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt.

* Người bị hại:

- Đặng Anh H, sinh năm: 1999 (vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của bị hại Đặng Anh H1: ông Đặng Đình H2, sinh năm: 1966 (có đơn xin vắng mặt)

Đồng trú tại: thôn H, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định

- Nguyễn Sinh B, sinh ngày 08/12/2005 (vắng mặt)

Trú tại: thôn T, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại Nguyễn Sinh B: ông Quách Hồng Cẩm - Trợ giúp viên pháp lý của chi nhánh TGPL số 02 thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Bình Định. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 06/5/2021 Nguyễn Tiến Đ một mình đi xe mô tô đến quán cà phê “Xưa và Nay” trong khuôn viên nhà hàng Hoàng ến aza ở khu vực N, phường Đ, thị xã A để uống nước. Đến khoảng 17 giờ c ng ngày, Đ ra về đến vị tr để xe ên hông quán cà phê “Xưa và Nay” phát hiện có 01 xe mô tô nhãn hiệu ave SX iển số 77 1-656.05 do anh Nguyễn Sinh B điều khiển đến dựng g n xe mô tô của Đ nhưng còn cắm chìa khoá ở c xe nên nảy sinh ý định mở cốp xe này tìm kiếm tài sản để ấy trộm. Đ ấy chìa khoá én út mở cốp xe phát hiện ên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu phone X của anh Đặng Anh H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu ed Magic S và 01 cục sạc dự phòng nhãn hiệu AVA của anh Nguyễn Sinh B, nên ấy ỏ vào trong cốp xe mô tô của Đ mang về nhà. Đến khoảng 19 giờ 30 phút c ng ngày, Đ mang chiếc điện thoại phone X đến tiệm sửa chữa điện thoại “Thanh” của anh Nguyễn Văn T để thuê mở khoá chiếc điện thoại này. Ngày 07/5/2021 sau khi kiểm tra hệ thống camera an ninh của nhà hàng Hoàng ến aza, ông an phường Đ đã mời Nguyễn Tiến Đ đến àm việc, Đ đã khai nh n toàn ộ diễn iến hành vi phạm tội.

Ngày 11/5/2021 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã A kết u n:

01 điện thoại di động phone X , dung ượng 64 B, màu xanh dương trị giá 06 triệu đồng.

01 điện thoại di động ed Magic S, dung ượng 128 B, màu đen, hỗ trợ 5 , trị giá 8,5 triệu đồng.

01 pin sạc dự phòng AVA, dung ượng 6400mAh, màu xanh, trị giá 100.000 đồng.

T ng giá trị tài sản à 14.600.000 đồng

V t chứng của vụ án: 01 điện thoại di động phone X , 01 điện thoại di động ed Magic S, 01 pin sạc dự phòng AVA. ơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.

Tại bản cáo trạng số: 38/CT-VKSAN ngày 11/8/2021, Viện kiểm sát nhân dân thị xã A truy tố bị cáo Nguyễn Tiến Đ về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ lu t hình sự.

Tại phiên tòa vị đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã A vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều lu t áp dụng như nội dung Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ lu t hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ từ 06-09 tháng t nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách do HĐXX ấn định.

- Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nh n lại tài sản và có đơn không yêu c u về dân sự, nên miễn xét.

- Về xử lý v t chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ lu t tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ lu t hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu ưu hồ sơ vụ án 1 đĩa DVD ên trong ưu trữ 01 đoạn video ghi lại một ph n diễn biến vụ trộm cắp tài sản.

Ý kiến của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị hại Nguyễn Sinh B: Đồng ý với tội danh và điều lu t Viện kiểm sát truy tố bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi và hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn của bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tiến Đ khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung của bản cáo trạng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định như sau:

Về thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Hành vi, quyết định tố tụng của ơ quan điều tra ông an thị xã A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ u t tố Tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của ơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của ơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp, đúng quy định pháp u t.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tiến Đ khai nh n: Khoảng 17 giờ ngày 06/5/2021 tại quán cà phê Xưa và Nay phát hiện xe mô tô của anh Nguyễn Sinh Bảo còn cắm chìa khóa ở c xe nên nảy sinh ý định mở cốp xe để lục tìm tài sản. Bị cáo đã ấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu phone X ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu ed Magic S và 01 cục sạc dự phòng nhãn hiệu AVA, có t ng giá trị à 14.600.000đ.

Lời khai nh n tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại ơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, tang v t vụ án và các tài liệu chứng cứ khác mà ơ quan điều tra đã thu th p nên HĐXX có đủ cơ sở kết lu n bị cáo Nguyễn Tiến Đ đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Sinh B và anh Đặng Anh H1. Tại Bản kết lu n định giá tài sản số 49 ngày 11/5/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thì tài sản mà bị cáo Đ chiếm đoạt có giá trị 14.600.000đ nên Viện kiểm sát nhân dân thị xã A truy tố bị cáo Nguyễn Tiến Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ lu t hình sự là có căn cứ.

Bị cáo Đ là một công dân đã trưởng thành, có đ y đủ năng ực hành vi để biết rằng hành vi trộm cắp tài sản người khác là trái pháp lu t. Vì mục đ ch tiêu xài cá nhân bị cáo đã ợi dụng người bị hại chủ quan sơ hở trong việc quản lý tai sản bị cáo đã én út chiếm đoạt tài sản của họ. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn xâm hại đến tr t tự an toàn xã hội tại địa phương, nên c n phải xử phạt th t nghiêm bằng pháp lu t hình sự tương xứng với hành vi và h u quả mà bị cáo gây ra.

Bị cáo Nguyễn Tiến Đ được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi; phạm tội l n đ u thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; khi bị phát hiện bị cáo đã trả lại tài sản cho bị hại. Đây à những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t hình sự. Hơn nữa ị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, là ao động ch nh trong gia đình có mẹ ị ệnh nằm một chỗ và vợ mới sinh con 06 tháng tu i. Nên Hội đồng xét xử xét thấy không c n cách y ị cáo ra ngoài xã hội mà cho ị cáo được hưởng án treo cũng đủ răn đe và giáo dục ị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nh n lại tài sản và có đơn không yêu c u về dân sự, nên miễn xét.

Về xử lý v t chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ lu t tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ lu t hình sự, tuyên tịch thu ưu hồ sơ vụ án 1 đĩa DVD ên trong ưu trữ 01 đoạn video ghi lại một ph n diễn biến vụ trộm cắp tài sản.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Tiến Đ phải chịu theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

* Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ lu t hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ 06 (sáu) tháng t nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách à 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Tiến Đ cho UBND xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định à nơi ị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Tiến Đ thay đ i nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Lu t thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo Nguyễn Tiến Đ cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 l n trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Đ phải chấp hành hình phạt tù của bản án.

* Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nh n lại tài sản và có đơn không yêu c u về dân sự, nên miễn xét.

* Về xử lý v t chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ lu t tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ lu t hình sự, tuyên tịch thu ưu hồ sơ vụ án 1 đĩa DVD ên trong ưu trữ 01 đoạn video ghi lại một ph n diễn biến vụ trộm cắp tài sản.

* Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Tiến Đ phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn) đồng.

* Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị hại nếu không đồng ý một ph n hoặc toàn bộ bản án có quyền kháng cáo lên cấp xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nh n được hoặc niêm yết Bản án.

“Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ