vanban.org

Bản án 45/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương Tuyên án 08/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Mạnh H cùng đồng phạm - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM THÀNH
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2021/HSST
Ngày: 8/9/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Chu Văn Nghĩa

Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn M và ông Nguyễn Trọng Bộ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Quốc Cường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Nhuần và ông Vũ Văn Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 08/9/2021, Tòa án nhân dân huyện Kim Thành mở phiên tòa công khai tại trụ sở để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 36a/2021/HSST ngày 26/7/2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2021/QĐXXST-HS ngày 02/8/2021 và Quyết định hoãn phiên toà số 19/2021/HSST-QĐ ngày 20 tháng 8 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. NGUYỄN MẠNH H, sinh ngày 09 tháng 4 năm 2001.

Nơi cư trú: Xóm 9, thôn N, xã M, thị xã K, Hải Dương.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam.

Trình độ văn hoá: 12/12

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Bố: Nguyễn Xuân H (đã chết); Mẹ: Phạm Thị S, sinh năm 1979.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 30/10/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Kinh Môn ra Quyết định khởi tố bị can, ngày 24/2/2021 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn ban hành Cáo trạng truy tố Nguyễn Mạnh H về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Bị bắt tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Hải Dương từ ngày 08/3/2021 đến nay.

2. NGÔ VĂN C, sinh ngày 18/8/2002.

Nơi cư trú: Khu A, phường A, thị xã K, Hải Dương.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam.

Trình độ văn hoá: 02/12

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Bố: Ngô Văn C, sinh năm 1974; Mẹ: H1 Thị T (đã chết). Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ 3.

Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 186 ngày 21/6/2021 của Viện pháp y tâm thần Trung ương kết luận: “Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định, bị can bị bệnh chậm phát triển tâm thần nhẹ, hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 14/10/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Thành ra Quyết định khởi tố bị can, ngày 25/6/2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành ban hành Cáo trạng truy tố Ngô Văn H về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.

Bị tạm giữ từ ngày 01/3/2021, áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương từ ngày 07/3/2021 trong vụ án cố ý làm hư hỏng tài sản như đã nêu ở trên.

* Bị hại: Anh Trần Văn H1, sinh năm 1999.

Địa chỉ: Khu P, phường H, thị xã K, Hải Dương.

* Người bào chữa cho bị cáo Ngô Văn H: Bà Nguyễn Thị Chi – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hải Dương.

* Người đại diện hợp pháp của bị cáo H: Ông Ngô Văn C, sinh năm 1974; địa chỉ: Khu A, phường A, thị xã K, Hải Dương (là bố đẻ của bị cáo).

* Người làm chứng:

1. Trần Văn T, sinh ngày 17/7/2003.

Địa chỉ: Khu P, xã H, thị xã K, tỉnh Hải Dương.

2. Hoàng Tiến Đ, sinh ngày 24/6/2004 và người đại diện hợp pháp là chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1980;

3. Phan Văn M, sinh ngày 27/7/ 2003.

Địa chỉ: Phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương.

4. Anh Lê Văn T, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Khu H, phường A, thị xã K, Hải Dương.

5. Chị Mai Thị S, sinh năm 2000.

Địa chỉ: Thôn L, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương.

6. Anh Vũ Văn Đ, sinh năm 2002.

Địa chỉ: Khu A, phường H, thị xã K, Hải Dương.

(Bị cáo và người bào chữa, người đại diện hợp pháp của bị cáo và bị hại có mặt; những người làm chứng đều vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Mạnh H và anh Trần Văn T là công nhân của Công ty TNHH B, thuộc KCN N, địa chỉ tại xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương. Do có mâu thuẫn cá nhân từ trước nên khoảng 17 giờ ngày 02/10/2020, H đem theo 02 gậy rút bằng kim loại đều có đặc điểm tay cầm bằng nhựa màu đen, khi chưa rút ra dài khoảng 25-30cm, khi rút phần lõi kim loại bên trong ra dài khoảng 50-60cm (do H mua từ năm 2019) để trong túi nhãn hiệu Nike có quai, màu tím - đen H đeo trên người, đến quán internet “T” ở phường A, thị xã K. Tại đây, H gặp Ngô Văn C (là bạn của H) đang chơi điện tử, H bảo C “Bạn bị đánh, mày sang hộ bạn tý”, C hiểu là H rủ đi đánh anh T (do trước đó H đã kể với C về mâu thuẫn với anh T), C đồng ý. Sau đó, H rủ bạn là Phan Văn M, C rủ bạn là H Tiến Đ đều đang chơi điện tử tại đây đi cùng, nhưng không nói cho M và Đ biết đi đâu, làm gì. H bảo M điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, sơn màu trắng, biển số 34D1-411.63 (là xe của H) chở H, Đ điều khiển xe mô tô kiểu dáng Dream do Trung Quốc sản xuất, sơn màu nâu, không đeo biển số của Đ chở C đến cổng Công ty BigFun theo chỉ dẫn của H. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, sau khi công nhân tan làm nhưng không thấy anh T đi ra, H và C đi bộ vào trong khu vực nhà xưởng 2 tầng của Công ty BigFun tìm đánh anh T, còn M và Đ ngồi trên xe mô tô ở khu vực cổng. Lúc này, anh T biết H tìm đánh mình nên gọi điện báo cho Trần Văn H (là anh ruột của anh T) làm ở gần đó biết. Trên đường đi vào khu vực nhà xưởng, H lấy từ trong túi đeo đưa cho C 01 gậy rút, H cầm 01 gậy rút. Khi thấy anh T ở bên trong cách đó khoảng 50m, H và C rút gậy kim loại ra, H chạy trước, C chạy sau đuổi theo anh T khoảng 20-30m nhưng không đuổi được nên quay lại. Lúc này, anh H đi đến dùng tay đấm, giằng co và ôm giữ người C (không gây thương tích). Thấy vậy, H chạy đến tay phải cầm gậy rút vụt từ trên xuống trúng vào đỉnh đầu phía sau anh H làm rách da chảy máu, anh H không ôm giữ C nữa thì C tay trái cầm gậy rút vụt trúng vào mi dưới mắt trái anh H làm rách da chảy máu và chấn thương mắt trái. Sau đó, có người can ngăn nên H và C bỏ chạy ra ngoài cổng, bảo M và Đ điều khiển xe chở về thị xã Kinh Môn, trên đường đi C trả lại gậy rút cho H. Anh H được đưa đi cấp cứu, điều trị tại Trung tâm y tế huyện Kim Thành.

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 642/2020/TgT ngày 24/12/2020 của Trung tâm pháp y Hải Phòng đối với anh Trần Văn H kết luận: Nạn nhân bị chấn thương gây vết thương rách da vùng chẩm kích thước 02x0,5cm; mi dưới mắt trái kích thước 1,5x0,2cm. Hiện tại còn giảm thị lực mắt trái, đục thủy tinh thể bắt đầu, sa lệch thủy tinh thể sau chấn thương 02 tháng 19 ngày. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do vết thương vùng đỉnh chẩm gây nên là 01%; do vết thương vùng mi dưới mắt trái gây nên là 03%; do tổn thương đục thủy tinh thể bắt đầu, sa lệch thủy tinh thể sau chấn thương làm giảm thị lực gây nên là 14%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do các thương tích gây nên là 17% (mười bảy phần trăm). Các thương tích trên có đặc điểm do vật tày có góc cạnh cứng tác động trực tiếp gây nên. Đối với thương tích vùng mi mắt trái của nạn nhân nếu dùng đầu gậy đánh trúng thì có thể gây nên được, còn nếu dùng khuỷu tay thì rất khó có thể gây nên được. Đối với hung khí mà Cơ quan điều tra cung cấp có thể gây nên và phù hợp với các thương tích trên.

Tại Công văn số 01/2021/CV ngày 08/01/2021 của Trung tâm pháp y Hải Phòng xác định: Vết thương vùng mi dưới mắt trái có đặc điểm do vật tày có góc cạnh cứng tác động tương hỗ trực tiếp theo hướng từ trước ra sau gây nên. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng đục thủy tinh thể bắt đầu, sa lệch thủy tinh thể là do chấn thương vào vùng mắt trái gây nên. Chấn thương vào vùng mắt trái gây nên vết thương vùng mi dưới mắt trái, tổn thương đục thủy tinh thể bắt đầu và sa lệch thủy tinh thể chứ không phải vết thương mi mắt trái gây ra thủy tinh thể bắt đầu và sa lệch thủy tinh thể .

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Thành đang quản lý xe mô tô biển số 34D1-411.63 và đăng ký xe mang tên Nguyễn Mạnh H, 01 túi nhãn hiệu Nike có quai đeo, màu tím - đen do Nguyễn Mạnh H giao nộp.

Đối với 02 gậy rút bằng kim loại H và C sử dụng làm công cụ phạm tội, sau đó H đã vứt ở khu vực rìa đường thuộc địa phận xã M Hòa, thị xã Kinh Môn, Cơ quan điều tra tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.

Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra, anh Trần Văn H yêu cầu H, C phải bồi thường chi phí điều trị, thu nhập bị mất, tổn thất tinh thần và các chi phí khác, tổng số tiền là 65.780.000 đồng. H và C chưa thực hiện nghĩa vụ bồi thường.

Quá trình điều tra Nguyễn Mạnh H và Ngô Văn C thừa nhận hành vi phạm tội.

Trong vụ án này, đối với Phan Văn M có hành vi chở Nguyễn Mạnh H và H Tiến Đ có hành vi chở Ngô Văn C, nhưng đều không biết mục đích H, C đi đánh nhau và không có hành vi nào khác cùng H, C gây thương tích đối với anh H nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với Trần Văn H có hành vi đấm, giằng co, ôm giữ Ngô Văn C (không gây thương tích) nên không cấu thành tội phạm, Cơ quan điều tra chuyển đến Công an huyện Kim Thành để xử lý vi phạm hành chính theo quy định pháp luật.

Tại bản Cáo trạng số 35/CT- VKS ngày 23/7/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành đã truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh H và Ngô Văn C đều về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

* Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như theo nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

* Bị hại có mặt tại phiên tòa; về trách nhiệm hình sự xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo Ngô Văn C. Về trách nhiệm dân sự: Anh H xác định gia đình bị cáo C đã bồi thường cho anh số tiền 7.000.000đ. Tại phiên toà, giữa người bị hại và bị cáo H, C thống nhất thoả thuận về bồi thường trách nhiệm dân sự đối với anh H với tổng số tiền 44.000.000đ; bị cáo H và bị cáo C mỗi bị cáo sẽ có nghĩa vụ bồi thường cho anh H số tiền 22.000.000đ (bị cáo C được trừ đi số tiền 7.000.000đ đã bồi thường).

* Đại diện VKSND huyện Kim Thành giữ nguyên Quyết định truy tố; nêu những chứng cứ chứng M hành vi phạm tội; xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Đề nghị: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với cả hai bị cáo. (Áp dụng thêm điểm b, q khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo C).

Tuyên bố Nguyễn Mạnh H và Ngô Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H từ 36 tháng tù đến 39 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 08/3/2021.

Xử phạt bị cáo Ngô Văn C từ 30 tháng tù đến 33 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.

- Về trách nhiệm dân sự, áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự. Điều 357; 584; 585, 586, 587; 590 của Bộ luật dân sự. Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo H, C và người bị hại tại phiên tòa về việc thực hiện trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại với tổng số tiền là 44.000.000đ; trong đó, mỗi bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại số tiền 22.000.000đ, bị cáo C được đối trừ số tiền đã bồi thường cho bị hại là 7.000.000đ.

- Về xử lý vật chứng, áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển số 34D1 – 411.63 cùng Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 036036 mang tên Nguyễn Mạnh H để phát mại, sung ngân sách nhà nước.

+ Tịch thu cho tiêu hủy 01 túi đeo nhãn hiệu NIKE màu tím đen.

Bị cáo H phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm đối với bị cáo C.

* Người bào chữa cho bị cáo C xác định:

Tội danh mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo C là có căn cứ, nhất trí với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo C như Viện kiểm sát đã đề xuất; đề nghị xử phạt bị cáo C từ 27 đến 30 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Nhất trí việc 02 bị cáo và người bị hại thoả thuận về việc thực hiện trách nhiệm dân sự, đề nghị Toà án ghi nhận sự thoả thuận này.

Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm; bị cáo C thuộc hộ cận nghèo nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người bào chữa và người đại diện hợp pháp cho bị cáo C; người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo H, C đều thừa nhận là người đã thực hiện hành vi cố ý gây ra thương tích cho Trần Văn H như Cáo trạng của Viện kiểm sát. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với diễn biến hành vi phạm tội mà các bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và phù hợp khách quan với các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu thập. Có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 19 giờ ngày 02/10/2020 tại xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương; Nguyễn Mạnh H và Ngô Văn C có hành vi dùng gậy rút bằng kim loại (là hung khí nguy hiểm) gây thương tích cho anh Trần Văn H tổn hại 17% sức khỏe.

Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành đã truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh H và Ngô Văn C đều về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung “Gây thương tích cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định từ đểm a đến điểm k khoản 1 Điều này” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đánh giá vị trí, vai trò của từng bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án có yếu tố đồng phạm; bị cáo H là người khởi xướng, chuẩn bị công cụ phạm tội và rủ rê bị cáo C thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo H và C đều là người trực tiếp thực hiện hành vi cố ý gây thương tích đối với anh H.

Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ và làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo đã sử dụng hung khí nguy hiểm, gây tỷ lệ tổn thương cơ thể cho người bị hại là 17%; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo H chưa thực hiện nghĩa vụ bồi thường về trách nhiệm dân sự cho người bị hại.

Trước khi thực hiện hành vi gây thương tích đối với anh H thì ngày 27/3/2020 Nguyễn Mạnh H có hành vi gây rối trật tự công cộng, bị Cơ quan cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát nhân dân thì xã Kinh Môn khởi tố, truy tố về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 2 Điều 218 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Ngô Văn C ngày 27, 29, 30/8/2020 cùng đồng bọn thực hiện hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản, bị Cơ quan cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành khởi tố, truy tố. Những hành vi này của H và C thực hiện trước hành vi gây thương tích cho anh H, chưa bị kết án nên không được coi là tiền án; tuy nhiên cũng cần xem xét tình tiết này để đánh giá nhân thân các bị cáo khi lượng hình phạt và để xét xử vụ án nghiêm M mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, thể hiện sự nghiêm M của pháp luật và mang tính răn đe, phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

- Tại quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo H, C đều có thái độ khai báo thành khẩn nên cả hai bị cáo đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, người bào chữa cho bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo C đều xác định bị cáo C không thuộc diện người khuyết tật nặng và không được hưởng trợ cấp hàng tháng; Biên bản xác M ngày 15/4/2021 tại phường An Lưu, thị xã Kinh Môn thì bị cáo C không phải là người khuyết tật thiểu năng trí tuệ nặng, không được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng; tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 186 ngày 21/6/2021, Viện pháp y tâm thần Trung ương kết luận: Khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định bị cáo bị bệnh chậm phát triển tâm thần nhẹ, hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; giai đoạn chuẩn bị xét xử bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại số tiền 7.000.000 và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo C được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, q khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Trách nhiệm dân sự: Giai đoạn chuẩn bị xét xử, người bị hại yêu cầu hai bị cáo phải bồi thường tiền chi phí điều trị, khám chữa bệnh, tiền thuê xe đi bệnh viện và tiền mua thuốc điều trị cũng như tiền mất thu nhập tháng 10/2020; tiền bồi thường tổn thất tinh thần theo quy định của pháp luật. Tại phiên toà, người bị hại và 02 bị cáo thoả thuận về việc thực hiện toàn bộ trách nhiệm dân sự về bồi thường thiệt hại sức khỏe với tổng số tiền là 44.000.000đ, mỗi bị cáo có nghĩa vụ bồi thường ½ số tiền tương ứng với số tiền 22.000.000đ. Xét thấy sự thỏa thuận này phù hợp quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử ghi nhận, đối với số tiền 7.000.000đ bị cáo C đã bồi thường cho bị hại sẽ được đối trừ vào số tiền phải bồi thường.

Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ của Nguyễn Mạnh H 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển số 34D1 – 411.63 cùng Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 036036 mang tên Nguyễn Mạnh H; do chiếc xe mô tô bị cáo sử dụng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên cho tịch thu chiếc xe mô tô cùng Giấy đăng ký xe phát mại sung ngân sách nhà nước; 01 túi đeo nhãn hiệu NIKE màu tím đen bị cáo H sử dụng để cất giấu công cụ phạm tội, chiếc túi này không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu huỷ.

Án phí: Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật; bị cáo C là người khuyết tật và thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

Vì lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

* Căn cứ vào:

+Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; điểm a khoản 1 Điều 47; Điều 48; Điều 58 Bộ luật hình sự. Điều 584; 585, 586, 587; 590; Điều 357; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội đối với bị cáo H, C.

+Điểm b, q khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo C.

* Tuyên bố: Nguyễn Mạnh H và Ngô Văn C đều phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

* Xử phạt:

+ Nguyễn Mạnh H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 08/3/2021.

+ Ngô Văn C 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.

* Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo H, C với người bị hại là anh Trần Văn H, sinh năm 1999; địa chỉ: Phạm Xá, Hiến Thành, Kinh Môn, Hải Dương bị hại về việc 02 bị cáo thực hiện liên đới bồi thường toàn bộ nghĩa vụ dân sự với tổng số tiền: 44.000.000đ (Bốn mươi bốn triệu đồng). Trong đó:

- Bị cáo Nguyễn Mạnh H thực hiện nghĩa bồi thường cho bị hại số tiền 22.000.000đ (Hai mươi hai triệu đồng).

- Bị cáo Ngô Văn C thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho bị hại số tiền 22.000.000đ; nhưng được trừ đi số tiền đã bồi thường là 7.000.000đ. Còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

* Xử lý vật chứng:

+ Tịch thu 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển số 34D1 – 411.63 cùng Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 036036 mang tên Nguyễn Mạnh H để phát mại, sung ngân sách nhà nước.

+ Tịch thu cho tiêu hủy 01 túi đeo nhãn hiệu NIKE màu tím đen.

(Số lượng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/7/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Thành).

- Về án phí: Nguyễn Mạnh H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 1.100.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm đối với bị cáo Ngô Văn C.

- Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm; có mặt 02 bị cáo, người bào chữa, người đại diện hợp pháp cho bị cáo C và bị hại. Đã báo cho những người nêu trên biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 6;7;9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ