- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Hữu H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đinh Hữu H phạm tội Cố ý gây thương tích.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45 /2021/HS-ST Ngày 21/6/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Duy Viễn và bà Hà Thị Vinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thúy Nga - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2021/TLST-HS ngày 31/5/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2021/QĐXXST-HS ngày 09/6/2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đinh Hữu H, sinh ngày 18/8/1990 tại, tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Thôn 1, xã ĐV, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang; nghề ngH4: Làm ruộng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Hữu S, sinh năm 1964 và bà Phạm Thị H, sinh năm 1965; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
* Bị hại: Anh Nguyễn Trung Đ, sinh năm 1990; trú tại: Thôn 2, xã ĐV, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang (có mặt).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Dương Quang Đ, sinh năm 1993 (vắng mặt)
2. Anh Dương Quang H2, sinh năm 1999 (có mặt)
3. Ông Đinh Hữu S1, sinh năm 1964 (có mặt)
Cùng trú tại: Thôn 1, xã ĐV, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
* Người làm chứng:
1. Anh Phan Viết Đ, sinh năm 2002 (vắng mặt)
2. Anh Tạ Quang T2, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Cùng trú tại: Thôn KT, xã CD, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
3. Ông Đặng Văn N, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Trú tại: Thôn 2, xã ĐV, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
4. Chị Triệu Thị H4, sinh năm 1985 (có mặt)
Trú tại: Thôn 4, xã ĐV, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 11/9/2020, sau khi uống rượu ở thành phố Tuyên Quang, Đinh Hữu H, Tạ Quang T2, Phan Viết Đ đến quán nước H4 Bằng ở thôn 1, xã ĐV, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang để uống nước.
Sau khi vào quán, H nhìn thấy Dương Quang Đ đang uống nước ở ngoài sân quán cùng Nông Thanh Huyền (vợ của Đ), Dương Quang H2 và Nguyễn Chung Đ. H nói với Đ “mày nhìn thấy bác mày không chào à”, Đ trả lời “bác cái mả mẹ mày”, hai bên xảy ra cãi, chửi nhau. H nhảy qua cửa sổ, lao về phía Đ định đánh thì Đ bỏ chạy. H2, Đ và một số người trong quán can ngăn. Khi H2 đang ôm giữ H thì Đ quay lại dùng tay trái đấm 04 đến 05 phát vào bả vai bên phải của H. H khua khoắng tay chân chống trả lại thì tay trái của H đập trúng vào phần mặt bên trái của H2. Bị đau, H2 dùng tay trái đấm 02 phát trúng gáy của H. Đ lúc này cũng lao vào dùng tay phải đấm 03 phát trúng phần bụng và sườn của H. H bỏ chạy ra khỏi quán, Đ nhặt 01 đoạn gậy gỗ dài 61,5cm cùng H2, Đ đuổi theo. H chạy đến chỗ dựng xe mô tô biển số 22B2-413.40 (xe của T2), nổ máy điều khiển xe về nhà mục đích tìm hung khí để đánh lại nhóm của Đ. Khi về đến nhà, thấy trên sân phía trước cửa nhà bên trái (theo hướng nhìn từ đường vào nhà) có 01 con dao bằng kim loại (bản dao dài 27,5cm, chỗ rộng nhất 6,3cm; chuôi dao bằng gỗ dài 12cm), H cầm dao điều khiển xe quay lại quán nước. Khoảng 23 giờ cùng ngày, H đến quán thấy Đ đang đứng trước cửa quán, H dừng xe, tay phải cầm dao chạy đến chỗ Đ đang đứng, Đ bỏ chạy thì bị H chém 01 phát từ phải qua trái trúng vào lưng. H2 thấy vậy dùng chân trái đạp 01 phát vào vùng cổ bên phải của H. Bị H2 đạp, H vung dao ra phía sau thì trúng bắp chân trái của H2, H2 bỏ chạy. Lúc này H nhìn thấy Đ đang đứng gần cửa sổ quán, H lao vào chém Đ, Đ bỏ chạy, H đuổi theo, cách Đ khoảng 01 mét thì tay phải cầm dao giơ lên chém 01 phát từ trên xuống dưới trúng vào bả vai phía sau mỏm vai phải của Đ, làm rách da, chảy máu (kích thước 5,5x0,3)cm. Đ tiếp tục chạy, H đuổi theo, dơ dao chém tiếp một phát từ trên xuống dưới thì phần lưỡi dao tuột ra, đúng lúc Đ quay mặt lại phía sau nên lưỡi dao văng trúng tháp mũi (kích thước 4,5x0,2)cm, sâu đứt môi trên bên phải (kích thước 3x0,2)cm xuyên vào rãnh lợi, làm gãy răng cửa số 1, số 2 hàm trên bên phải của Đ, Đ bỏ chạy vào trong quán. Lúc này mọi người can ngăn, H vứt chuôi dao lại hiện trường, nhặt phần lưỡi dao đi về nhà vứt ở sân rồi đi ngủ. Đ được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 247/2020/TgT ngày 20/10/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Tuyên Quang kết luận:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Sẹo phần mềm vùng mũi 3%;
- Sẹo phần mềm môi trên bên phải 3%;
- Mất răng cửa số 1, số 2 hàm trên bên phải mỗi răng mất 2%;
- Sẹo phần mềm vùng vai phải 2%.
2. Cơ chế, vật gây thương tích: Thương tích như trên là do vật sắc tác động trực tiếp gây nên.
3. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Nguyễn Chung Đ hiện tại là 11% (Mười một phần trăm).
Tại Kết luận giám định số 716/GĐ-KTHS(PC09) ngày 24/9/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang kết luận: Trên các mẫu ký hiệu A1 (con dao do bị can H nộp), A4, A5, A6, A7 (các dấu vết máu thu tại vị trí số 2, 3, 4, 5 ở hiện trường) có máu người, thuộc nhóm máu A. Bị hại Nguyễn Chung Đ nhóm máu A.
Từ nội dung trên, Cáo trạng số 49/CT-VKSND ngày 31/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn đã truy tố bị cáo Đinh Hữu H về Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
- Tuyên bố bị cáo Đinh Hữu H phạm tội Cố ý gây thương tích.
- Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Đinh Hữu H từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho H án treo, thử thách từ 48 (bốn mươi tám) tháng đến 60 (sáu mươi) tháng. Thời hạn thử tháchtínhtừ ngày tuyên ánsơthẩm.
- Áp dụng: Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 chuôi dao bằng gỗ dài 12cm; 01 đoạn gậy gỗ tròn, chiều dài 61,5cm; đường kính 3,3cm; 01 con dao bằng kim loại (không có chuôi) dài 35,5cm (bản dao dài 27,5cm, chỗ rộng nhất 6,3cm).
Tịch thu lưu hồ sơ vụ án 01 USB chứa video vụ việc.
- Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để quyết định về án phí; áp dụng các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tuyên quyền kháng cáo.
Bị cáo không tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên, nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tạị phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ ngày 11/9/2020, tại quán H4 Bằng ở thôn 1, xã ĐV, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, Đinh Hữu H đã có hành vi dùng 01 con dao bằng kim loại (phần bản dao dài 27,5cm, phần chuôi dài 12cm) chém 01 phát trúng vào bả vai phía sau mỏm vai phải và 01 phát trúng tháp mũi, sâu đứt môi trên bên phải xuyên vào rãnh lợi, làm gãy răng cửa số 1, số 2 hàm trên bên phải của Nguyễn Trung Đ gây tổn hại 11% (mười một phần trăm) sức khỏe.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác. Bị cáo nhận thức rõ việc dùng dao bằng kim loại chém vào bả vai và mũi, miệng người khác là có khả năng gây thiệt hại đến sức khoẻ của họ nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi dùng dao bằng kim loại chém 01 phát trúng vào bả vai phía sau mỏm vai phải và 01 phát trúng tháp mũi, sâu đứt môi trên bên phải xuyên vào rãnh lợi, làm gãy răng cửa số 1, số 2 hàm trên bên phải của Nguyễn Trung Đ gây tổn hại 11% (mười một phần trăm) sức khỏe. Hành vi đó của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, coi thường sức khoẻ của người khác nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự) là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật. Vì vậy, cần phải có mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
Tuy nhiên, để đánh giá khách quan và toàn diện nội dung vụ án và có căn cứ ra mức án phù hợp đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị hại Nguyễn Trung Đ (cùng với Đ, H2) là người đã đấm bị cáo trước thì mới dẫn đến bị cáo bức xúc đi về nhà lấy dao mang đến quán để gây thương tích cho Nguyễn Trung Đ. Với những tình tiết như trên, xác định trong vụ án này người bị hại là anh Nguyễn Trung Đ có một phần lỗi.
Khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cần xem xét cho bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng; quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; bị hại có lỗi một phần; bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo cho bị cáo được H án treo để bị cáo được cải tạo tại địa phương có cơ hội khắc phục lỗi lầm, cũng để thể hiện tính nhân Đ của pháp luật Nhà nước ta là phù hợp.
[2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự .
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả; quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có một phần lỗi và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[3] Về dân sự: Bị hại Nguyễn Trung Đ đã nhận của bị cáo số tiền bồi thường 80.000.000 (tám mươi triệu đồng). Tại phiên tòa, anh Đ không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về vật chứng:
Đối với 01 chuôi dao bằng gỗ (phần đầu nhỏ có bọc khâu dao bằng kim loại) chuôi có tổng chiều dài 12cm, chu vi đầu to 11,6cm, chu vi đầu nhỏ 9cm; 01 con dao bằng kim loại (không có chuôi) dài 35,5cm (bản dao và lưỡi dao dài 27,5cm, chỗ rộng nhất 6,3cm). Con dao và chuôi dao bằng gỗ là của ông Đinh Hữu S1, khi bị cáo lấy đi đánh nhau ông S1 không biết. Ông S1 không đề nghị xin lại con dao và chuôi dao bằng gỗ. Do dao và chuôi dao đã cũ không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 đoạn gậy gỗ tròn, chiều dài 61,5cm, đường kính 3,3cm là tang vật của vụ án không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 USB chứa video vụ việc là vật chứng có trong hồ sơ cần tịch thu lưu hồ sơ vụ án.
[5] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
[6] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Quá trình điều tra và truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Khởi tố, điều tra, thu thập chứng cứ, truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.
[7] Về các nội dung khác: Đối với thương tích của Dương Quang Đ, Dương Quang H2 và Đinh Hữu H. Ngày 13/10/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Sơn đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 221, 222, 223 nhưng Đ, H2, H có đơn từ chối giám định tổn hại phần trăm sức khỏe do vết thương chỉ bị xây xát da, không ảnh H đến sức khỏe. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố: Bị cáo Đinh Hữu H phạm tội Cố ý gây thương tích.
- Xử phạt: Bị cáo Đinh Hữu H 02 (hai) năm tù cho H án treo, thử thách 04 (bốn) năm. Thời hạn thử tháchtínhtừ ngày tuyên ánsơ thẩm 21/6/2021.
Giao bị cáo Đinh Hữu H cho Uỷ ban nhân dân xã ĐV, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được H án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được H án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho H án treo.
Trường hợp bị cáo được H án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 chuôi dao bằng gỗ (phần đầu nhỏ có bọc khâu dao bằng kim loại) chuôi có tổng chiều dài 12cm, chu vi đầu to 11,6cm, chu vi đầu nhỏ 9cm; 01 đoạn gậy gỗ tròn, chiều dài 61,5cm, đường kính 3,3cm; 01 con dao bằng kim loại (không có chuôi) dài 35,5cm (bản dao và lưỡi dao dài 27,5cm, chỗ rộng nhất 6,3cm) đã qua S1 dụng.
- Tịch thu lưu hồ sơ vụ án 01 USB chứa video vụ việc.
Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Yên Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Sơn ngày 02/6/2021.
3. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136, 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
- Bị cáo Đinh Hữu H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Tuyên Quang;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND huyện Yên Sơn;
- Công an huyện Yên Sơn;
- Chi cục THADS huyện Yên Sơn;
- Người tham gia tố tụng;
- UBND xã nơi bị cáo cư trú;
- Hồ sơ vụ án;
Phạm Thị Quỳnh
- THA hình sự;
- Lưu HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Văn Hùng Nguyễn Ngọc Xuyến
Phạm Thị Quỳnh Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Tuyên Quang;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- VKSND tỉnh Tuyên Quang; -Trại tạm giam công an tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND huyện Sơn Dương;
- Công an huyện Sơn Dương;
- Chi cục THADS huyện Sơn Dương;;
- Người tham gia tố tụng;
Phạm Thị Quỳnh
- Lưu hồ sơ vụ án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Văn Hùng Nguyễn Ngọc Xuyến
Phạm Thị Quỳnh
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Sơn Dương; - Công an huyện Sơn Dương; - Chi cục THADS huyện Sơn Dương;; - UBND xã Vĩnh Lợi; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phạm Thị Quỳnh |