vanban.org

Bản án 45/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 31/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Minh C phạm tội “Cố ý gây thương tích và tội trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Đoàn Minh C 01 (Một) năm 06 (Sáu) tù giam về tội cố ý gây thương tích và 06 (Sáu) tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Minh C gây thương tích và trộm cắp TS - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đ…"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 45/2021/HS-ST
Ngày: 31-3-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Chung Quốc Hội

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Thành Tấn, bà Phạm Thị Kiếm

- Thư ký phiên toà: Ông Lâm Thanh Toàn – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Vinh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2021/TLST-HS ngày 29 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đoàn Minh C, sinh năm 1995, tại Thanh Hóa.

Tên gọi khác: Không.

Nơi cư trú: Xóm A, xã B, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.

Nghề nghiệp: Làm thuê;

Trình độ văn hóa: 12/12;

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam

Con ông Đoàn Minh T và bà Nguyễn Thị C;

Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 23/9/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc (nay là Toàn án nhân dân thành phố Phú Quốc) quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/01/2021 đến nay;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Công ty A (Vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã C, thành phố D, Kiên Giang.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Tùng D, sinh năm 1986.

Chức vụ: Phó Giám đốc.

Theo giấy ủy quyền số 01/2021/UQ-GĐ ngày 06/3/2021.

2. Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1981 (Vắng mặt).

Địa chỉ: 678 Lý Thường Kiệt, khóm A, phường B, thành phố C, Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 01 giờ ngày 27/6/2019, Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn T, Đinh Văn C, Cam Văn P cùng với B, C, N và Ngh (chưa rõ nhân thân) ngồi uống cà phê ở ấp A, xã B, huyện C (nay là thành phố C), tại đây B rủ cả nhóm đi đến Công ty A (gọi tắt Công ty A) lấy trộm tài sản bán lấy tiền tiêu xài, tất cả đồng ý. Sau đó, B điều khiển xe mô tô hiệu Sirius (không rõ biển số), T chạy xe mô tô biển số 68L1 – 032.84 (xe mượn của bà Nguyễn Thị Đ, mẹ ruột của T) chạy đi, số còn lại đi đến Công ty A cách đó khoảng 500m cũng thuộc ấp A, xã B, lúc này khoảng 01 giờ 15 phút cùng ngày cả nhóm đi vào trong kho của Công ty cùng nhau khiêng ra được 115 chân giàn giáo của Công ty A đưa ra ngoài đường lộ. Sau đó, Bchạy xe mô tô (không rõ biển số) đến vựa phế liệu của bà Nguyễn Thị L ở ấp A, xã B nói với bà L có phế liệu cần bán thì bà L đồng ý mua (Bà L không biết tài sản do trộm cắp mà có). Sau đó, bà L điều khiển xe ô tô tải biển số 60C – 433.95 chạy theo B đến trước khu vực Công ty A. Khi cả nhóm chuẩn bị đưa tài sản lấy trộm lên xe ô tô thì bị anh Nguyễn Văn Th là bảo vệ Công ty phát hiện truy hô nên tất cả bỏ chạy. Thấy vậy nên bà L điều khiển xe chạy về nhà. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày, B, C, V và C gặp lại nhau ở quán cà phê thuộc ấp A, xã B. Bình rủ T, V và C quay lại Công ty A để đánh bảo vệ, tất cả đồng ý. C điều khiển xe mô tô biển số 68L1 – 032.84 chở T mang theo một cây dao tự chế, B điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở V mang theo một cây dao tự chế. Lúc này khoảng 04 giờ 30 phút cùng ngày, C, B chở T và V chạy đến trước cổng Công ty A khi thấy ông Th đang đứng trước cổng nên T và V cầm dao chạy đến chỗ ông Th, V dùng dao chém một nhát trúng vào đầu ông Th gây thương tích, T tiếp tục dùng dao chém một nhát trúng vào tay ông Th gây thương tích. Sau đó, cả hai lên xe của C và B bỏ chạy, còn ông T được đưa đi cấp cứu. Đến ngày 07/10/2019, T, V, C và P bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Quốc khởi tố cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra. Trong giai đoạn truy tố, bị can bỏ trốn, đến ngày 12/01/2021 bị bắt theo quyết định truy nã.

Vật chứng thu giữ:

- 01 cây dao tự chế bằng kim loại dài 65cm, cán dài 20cm, lưỡi sắc, mũi nhọn dài 45cm.

- 01 cây dao tự chế bằng kim loại dài 80cm, cán dài 30cm, lưỡi sắc, mũi nhọn dài 50cm.

- 115 chân giàn giáo, mỗi chân dài 1,7m (đã trả cho chủ sở hữu).

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 52/KL-HĐĐGTS ngày 23 tháng 8 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phú Quốc kết luận: 115 chân giàn giáo bằng kim loại, mỗi chân cao 1,7m có giá 25.760.000 đồng.

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 456/KL-PY ngày 29 tháng 7 năm 2019 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế tỉnh Kiên Giang kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Th là 15%.

Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKSPQ ngày 27 tháng 01 năm 2021 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố đối với bị cáo Đoàn Minh C về tội “Cố ý gây thương tích và trộm cắp tài sản” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 và khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, vị Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đoàn Minh C từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù giam về tội cố ý gây thương tích và áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đoàn Minh C từ 09 tháng đến 12 tháng về tội trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt đối với bị cáo C.

Về xử lý vật chứng: Đã được xử lý tại Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2020/HS-ST ngày 19/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với B, Ngh, C, N chưa rõ nhân thân, cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, khi nào đủ cơ sở sẽ đề nghị xử lý sau.

Tại phiên tòa, bị cáo C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố, bị cáo thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Lời nói sau cùng: Bị cáo C xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phú Quốc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Công ty A và ông Nguyễn Văn Th vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Công ty A và ông Nguyễn Văn Th.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Cảnh khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố.

Như vậy có đủ cơ sở xác định vào khoảng 01 giờ 15 phút, ngày 27/6/2019 bị cáo C cùng với T, V, P, B, C, Nu, Ngh vào kho của Công ty A trộm 115 bộ giàn giáo mang ra ngoài lộ chuẩn bị bán cho bà Nguyễn Thị L thì bị ông Nguyễn Văn Th (là bảo vệ Công ty A) phát hiện thì cả nhóm và bà L bỏ chạy. Đến khoảng 04 giờ 30 phút cùng ngày, B rủ T, V và bị cáo C quay lại Công ty A đánh bảo vệ trả thù, bị cáo C đồng ý. Hậu quả ông T bị T dùng dao tự chế chém trúng vào đầu, sau đó bị V chém trúng vào tay với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 15%. Đến ngày 07/10/2019, bị cáo C bị khởi tố.

Bị cáo C cùng T, V, P, B, C, N, Ngh là những thanh tiên rất trẻ, có sức khỏe nhưng lại lười lao động, tập trung lại để cùng nhau bàn bạc, lợi dụng đêm khuya, thiếu sự quản lý chủ sở hữu tài sản mà tìm cách lấy trộm tài sản bán tiêu xài và thu lợi bất chính. Khi bị bảo vệ của Công ty A phát hiện sự việc, bị cáo C đồng ý cùng với T, V, B quay lại Công ty A mang theo hung khí gây thương tích cho ông Th với tỷ lệ thương tật 15%. Tuy không phải là người trực tiếp dùng hung khí gây thương tích cho ông Th nhưng bị cáo C chấp thuận lời đề nghị của B nên đã dùng xe chở theo T đến gây thương tích cho ông Th với vai trò đồng phạm trong vụ án. Trong phần nghị án, Hội đồng xét xử quyết định cần phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Đồng thời, có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

Hội đồng xét xử nhận thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích và trộm cắp tài sản” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 và khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo, tại phiên tòa, bị cáo có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã gây ra cho bị hại. Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị có cáo lý lịch, nhân thân tốt. Như vậy, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để chuyển khung hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại.

Ông Trần Tùng D và ông Nguyễn Văn Th vắng mặt, không có văn bản yêu cầu trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại trong vụ án. Trường hợp Công ty A và ông Nguyễn Văn Th có yêu cầu thì có quyền khởi kiện thành vụ án dân sự khác.

Về xử lý vật chứng: Đã được xử lý tại Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2020/HS-ST ngày 19/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Cảnh phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Minh C phạm tội “Cố ý gây thương tích và tội trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đoàn Minh C 01 (Một) năm 06 (Sáu) tù giam về tội cố ý gây thương tích và 06 (Sáu) tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo Cảnh phải chấp hành hình phạt chung của hai tội danh là 02 (Hai) năm tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị tạm giữ, tạm giam.

2. Về trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại:

Ông Trần Tùng D và ông Nguyễn Văn Th vắng mặt, không có văn bản yêu cầu trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại trong vụ án. Trường hợp Công ty A và ông Nguyễn Văn Th có yêu cầu thì có quyền khởi kiện thành vụ án dân sự khác.

3. Về xử lý vật chứng: Đã được xử lý tại Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2020/HS-ST ngày 19/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Đoàn Minh C phải chịu số tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ