vanban.org

Bản án 45/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 29/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân D 01 (Một) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trong thời gian thử thách giao bị cáo Lê Xuân D cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa để giám sát và giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂNDÂN HUYỆN HOẰNG HÓA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Tỉnh Thanh Hóa

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2021/HS-ST
Ngày 29/7/2021.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Văn Tâm.

Bà Lường Thị Huyền.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Đỗ Diệu Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 46/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2021 đối với:

Bị cáo Lê Xuân D; sinh năm 1990 tại Thanh Hóa; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn T, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân L và bà Lê Thị P; vợ: Nguyễn Thị Ngọc Y và có 02 con; tiền sự, tiền án: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 18/5/2021 đến ngày 24/5/2021 thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Bị hại: Bà Hoàng Thị N, sinh năm 1977. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Phố T, thị trấn B, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Xuân B, sinh năm 1992. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Người làm chứng: Bà Lê Thị L, sinh năm 1971. Vắng mặt.

Địa chỉ: Phố T, thị trấn B, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06h ngày 15/5/2021 Lê Xuân D điều khiển môtô nhãn hiệu Vision biển kiểm soát 36B8-221… từ nhà ở thôn T, xã Đ, huyện H đến nhà hàng N ở thị trấn B để mua cháo; Lê Xuân D gặp bà Hoàng Thị N là chủ nhà hàng đang ngồi phía ngoài hè, D đi vào bên trong nhà hàng gặp bà Lê Thị L (là người làm thuê cho nhà hàng) hỏi mua 30.000 đồng cháo dê. Bà L đi vào bếp để lấy cháo còn D đứng ở khu vực gần cửa ra vào bếp, cạnh quầy thanh toán. Trong lúc chờ đợi, D nhìn thấy trên bàn ở quầy thanh toán có 01 điện thoại Samsung A51 màu xanh ngọc và 01 điện thoại Samsung A12 màu xanh của bà Hoàng Thị N, thấy không có ai nên đã trộm cắp 02 chiếc điện thoại trên bỏ vào túi quần, trả tiền cháo rồi đi về nhà; về nhà D tháo 04 sim điện thoại (mỗi điện thoại lắp 02 sim) giấu dưới gầm bàn, kiểm tra điện thoại Samsung A51 màu xanh ngọc không khóa màn hình, còn điện thoại Samsung A12 có khóa màn hình bằng hình vẽ, D thử vẽ hình chữ “L” thì mở được mật khẩu máy nên đã xóa toàn bộ dữ liệu trong 02 điện thoại; đến khoảng 14h cùng ngày D điều khiển môtô biển kiểm soát 36B8-221… đến xã L, huyện H, trên đường đi D vứt 02 ốp lưng rồi đem hai chiếc điện thoại đến quán sửa chữa điện thoại XB bán cho Nguyễn Xuân B ở thôn Đ, xã L lấy 5.500.000 đồng sử dụng cá nhân.

Đến 11h50’ ngày 18/5/2021 Lê Xuân D đến Công an huyện Hoằng Hóa đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Xuân D ở thôn T, xã Đ, thu giữ 01 chiếc áo phông màu trắng có sọc ngang màu đen trước ngực; 02 sim điện thoại 4G Vinaphone và 02 sim điện thoại 4G Mobiphone tại ngăn kéo bàn làm việc của Lê Xuân D; 01 xe môtô nhãn hiệu Honda loại Vision màu đỏ mận biển số 36B8-221… đã qua sử dụng, số khung RLHJK0304MY023220, số máy JK03E-0029345; 01 mũ bảo hiểm thời trang Trí Liễu màu đen đã qua sử dụng.

Nguyễn Xuân B giao nộp cho cơ quan Công an huyện Hoằng Hóa 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung A51 màu xanh ngọc, số IMEI 354595/38/819693/4, điện thoại cũ đã qua sử dụng và 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung A12 màu xanh số IMEI 351162/96/507498/5 điện thoại cũ đã qua sử dụng.

Kết luận định giá tài sản số 13/HĐĐG-HH ngày 21/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hoằng Hóa, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A51 màu xanh ngọc trị giá 3.100.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A12 màu xanh trị giá 2.900.000 đồng.

Vật chứng: 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung A51; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung A12; 02 sim điện thoại 4G Vinaphone; 02 sim điện thoại 4G Mobiphone sau khi định giá tài sản, cơ quan điều tra Công an huyện Hoằng Hóa đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà Hoàng Thị N và bà N không có yêu cầu gì.

Đối với chiếc môtô nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 36B8-221…, số khung RLHJK0304MY023220, số máy JK03E-0029345, quá trình điều tra xác định là xe của chị Nguyễn Thị Ngọc Y, chị Y không biết việc D dùng xe thực hiện hành vi phạm tội, nên cơ quan điều tra trả lại cho chị Nguyễn Thị Ngọc Y.

Đối với 01 chiếc áo phông màu trắng có sọc ngang màu đen trước ngực và 01 mũ bảo hiểm thời trang Trí Liễu màu đen đã qua sử dụng, chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa chờ xét xử.

Về dân sự: Bà Hoàng Thị N và anh Nguyễn Xuân B sau khi nhận lại tài sản không có yêu cầu bồi thường gì.

Cáo trạng số 47/CTr-VKSHH ngày 13 tháng 7 năm 2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Lê Xuân D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên và sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo Lê Xuân D khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự; hình phạt từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng đến 30 tháng; vật chứng tịch thu tiêu hủy 01 áo phông, 01 mũ bảo hiểm và buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố, đồng ý với luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa; lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất và được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Hoằng Hóa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh:

Khoảng 06h ngày 15/5/2021 Lê Xuân D đi xe môtô biển kiểm soát 36B8-221… đến nhà hàng N ở phố T, thị trấn B để mua cháo; D gặp bà Lê Thị L hỏi mua cháo dê, bà L đi vào bếp để lấy cháo còn D đứng ở khu vực gần cửa ra vào bếp, cạnh quầy thanh toán; D nhìn thấy trên bàn ở quầy thanh toán có 01 điện thoại Samsung A51 màu xanh ngọc và 01 điện thoại Samsung A12 màu xanh của bà Hoàng Thị N (chủ quán) nên đã lấy bỏ vào túi quần, trả tiền cháo rồi đi về; về nhà D tháo 04 sim của 02 máy điện thoại và kiểm tra điện thoại Samsung A51 không khóa màn hình, điện thoại Samsung A12 có khóa màn hình, D thử vẽ hình chữ “L” thì mở được mật khẩu máy nên đã xóa toàn bộ dữ liệu trong 02 điện thoại; đến khoảng 14h cùng ngày D đi đến quán sửa chữa điện thoại XB ở xã L, huyện H bán 02 chiếc điện thoại bán cho Nguyễn Xuân B lấy 5.500.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 13/HĐĐG-HH ngày 21/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hoằng Hóa kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A51 màu xanh ngọc trị giá 3.100.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A12 màu xanh trị giá 2.900.000 đồng.

Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị cáo Lê Xuân D thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm của tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất của vụ án thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân được Nhà nước bảo vệ, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội, với động cơ tư lợi muốn hưởng thụ trên thành quả lao động của người khác bị cáo lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản để chiếm đoạt tài sản. Do đó cần phải xử lý nghiêm, có hình phạt phù hợp nhằm giáo dục bị cáo, giáo dục chung cho xã hội.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về việc thực hiện hành vi phạm tội; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã bồi thường số tiền bị cáo bán tài sản chiếm đoạt mà có; sau khi phạm tội đã đầu thú, bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt. Do đó áp dụng các quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền địa phương là phù hợp với quy định của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

Về dân sự: Tài sản mà bị cáo chiếm đoạt và đã bán cho anh Nguyễn Xuân B số tiền 5.500.000 đồng, cơ quan điều tra Công an huyện Hoằng Hóa đã trả lại tài sản cho bà Hoàng Thị N, số tiền bị cáo bán tài sản chiếm đoạt đã bồi thường cho anh B; bà N và anh B không có yêu cầu gì nên không xét.

Về vật chứng: 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung A51 màu xanh ngọc, 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung A12 màu xanh đã trả lại cho bà Hoàng Thị N; chiếc môtô nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 36B8-221…, quá trình điều tra xác định là xe của chị Nguyễn Thị Ngọc Y, chị Y không biết việc D dùng xe này đi phạm tội, nên cơ quan điều tra trả lại cho bà Hoàng Thị N và chị Nguyễn Thị Ngọc Y là đúng với quy định của pháp luật.

Đối với 01 chiếc áo phông màu trắng có sọc ngang màu đen trước ngực và 01 mũ bảo hiểm thời trang Trí Liễu màu đen thu giữ của bị cáo, tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu trả lại và giá trị sử dụng không còn nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân D 01 (Một) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trong thời gian thử thách giao bị cáo Lê Xuân D cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa để giám sát và giáo dục.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo phông màu trắng có sọc ngang màu đen trước ngực và 01 mũ bảo hiểm thời trang Trí Liễu màu đen (Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 50/BBGN ngày 21/7/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa).

Án phí: Buộc bị cáo Lê Xuân D chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.

Cỡ chữ