vanban.org

Bản án 45/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 07/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Tấn T phạm tội “Không tố giác tội phạm”.

Xử phạt bị cáo Trần Tấn T 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (08/12/2021). Giao bị cáo Trần Tấn T cho Ủy ban nhân dân xã KL, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Tấn T phạm tội Không tố giác tội phạm - phạm tội không tố giác tội phạm (điều 390 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Tấn T phạm tội “Không tố giác tội phạm”.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC THỌ
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2021/HS-ST
Ngày: 08/12/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC THỌ, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hồng Chương và ông Lê Như Long.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ tham gia phiên tòa: Bà Đậu Thị Hiền Trang – Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2021/TLST-HS ngày 16/11/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2021/QĐXXST-HS ngày 19/11/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2021/HSST-QĐ, ngày 01/12/2021 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Trần Tấn T, sinh ngày 16/4/1998 tại xã KL, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn VH, xã KL, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc H, sinh năm 1964, con bà Chu Thị T, sinh năm 1970; vợ, con: Chưa có, anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ hai; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú , tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 09/9/2021 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa, sức khỏe bình thường và tự bào chữa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Mai Đậu T, sinh năm 1985, địa chỉ: Thôn VH, xã KL, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Bà Chu Thị T, sinh năm 1970, địa chỉ: Thôn VH, xã KL, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

2. Ông Trần Ngọc H, sinh năm 1964, địa chỉ: Thôn VH, xã KL, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

3. Anh Hoàng Đình T, sinh năm 1977, địa chỉ: Thôn VH, xã KL, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

4. Ông Trần Văn L, sinh năm 1966, địa chỉ: Thôn VH, xã KL, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 02 tháng 3 năm 2021, Mai Đậu T gặp Trần Tấn T nói: Chở anh sang nhà ngoại huyện ĐT tý, Trần Tấn T đồng ý, rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream II, màu đỏ thẩm, biển kiểm soát 37M1-528.91 chở Mai Đậu T đi sang huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh. Khi đi qua đoạn đường nội đồng thuộc địa phận thôn TT, xã LM, huyện ĐT, Mai Đậu T nhìn thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream II, màu đỏ thẩm, biển kiểm soát 38F1-7598 (phía sau yên xe có gắn một chiếc giá chở hàng bằng gỗ), trị giá 7.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị H, trú tại thôn TT, xã LM, huyện ĐT đang dựng bên đường. Quan sát xung quanh không có ai trông coi nên Mai Đậu T liền nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Lúc này, Mai Đậu T nói với Trần Tấn T: Dừng lại chờ anh tý. Trần Tấn T hỏi: Dừng lại làm gì? thì Mai Đậu T im lặng và đi lại vị trí chiếc xe mô tô đang dựng, lấy trong túi quần một chiếc chìa khóa xe Honda, cán bằng nhựa màu đen, đầu khóa làm bằng kim loại có hình răng cưa (có sẵn từ trước) phá ổ khóa điện, rồi điều khiển xe vừa lấy trộm được đi theo đường vượt lũ về hướng xã TC, huyện ĐT. Thấy vậy, Trần Tấn T điều khiển xe mô tô của mình đi theo sau. Khi đến khu vực nghĩa trang cách cầu Yên Xuân khoảng 300m, Mai Đậu T dừng lại, tháo chiếc giá gỗ phía sau yên xe vứt lại, rồi điều khiển xe đến quán sữa chữa xe máy MN của chị Thái Thị Thanh N, trú tại xã NG, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An, nhờ chị N tháo giỏ xe, yếm xe, ba đơ xốc và hai thanh bảo vệ máy vứt lại ở cửa hàng, rồi điều khiển xe mô tô vừa lấy trộm được đi về nhà.

Còn Trần Tấn T đi về nhà mình, sau đó đến nhà Mai Đậu T uống rượu. Đến 19 giờ cùng ngày, thì bị Công an huyện Đức Thọ triệu tập đến làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Trần Tấn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản cáo trạng số: 46/CT-VKS-ĐT ngày 12/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ đã truy tố bị cáo Trần Tấn T về tội “Không tố giác tội phạm” theo Khoản 1 Điều 390 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 390, Điểm i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Trần Tấn T mức án từ 6 đến 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Về biện pháp tư pháp: Đã được xử lý tại bản án số 35/2021/HS-ST ngày 25/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh nên miễn xét.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, xin giảm nhẹ hình phạt và không có khiếu nại gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Đức Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, một số người làm chứng nhưng không gây cản trở cho việc xét xử nên căn cứ vào Điều 292 và 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án quyết định xét xử vụ án.

[ ]. Về tình ti t nh tội nh hung hình phạt: Tại phiên tòa bị cáo Trần Tấn T đã khai nhận: Vào khoảng 15 giờ, ngày 02/3/2021, Trần Tấn T chứng kiến, biết rõ Mai Đậu T (đã có hành vi Tái phạm nguy hiểm trước đó, chưa được xóa án tích) lén lút lấy trộm một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream II, màu đỏ thẩm, biển kiểm soát 38F1-7598, trị giá 7.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị H, trú tại thôn TT, xã LM, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh, nhưng không tố giác hành vi phạm tội của Mai Đậu T với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo có tại hồ sơ, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lời khai những người làm chứng và các vật chứng, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, đủ cơ sở khẳng định bị cáo Trần Tấn T đã che dấu hành vi phạm tội của Mai Đậu T. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ truy tố bị cáo Trần Tấn T về tội “Không tố giác tội phạm” theo Khoản 1 Điều 390 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[ ]. Về tình ti t t ng n ng trách nhiệm hình s : Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về tình ti t gi m nhẹ trách nhiệm hình s : Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về c n cứ quy t nh hình phạt: Xét tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo chứng kiến, biết rõ Mai Đậu T có hành vi trộm cắp tài sản nhưng không tố giác hành vi phạm tội của Mai Đậu T với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình che dấu tội phạm.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật như Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp, để cải tạo bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

. Về biện pháp tư pháp: Đã được xử lý tại bản án số 35/2021/HS-ST ngày 25/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh nên miễn xét.

. Về xem xét trách nhiệm của những người liên quan: Trong vụ án này, Mai Đậu T là người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và đã bị Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ xét xử tại bản án số 35/2021/HS-ST ngày 25/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh là đúng quy định của pháp luật.

. Về án phí sơ thẩm và quyền háng cáo: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Tấn T phạm tội “Không tố giác tội phạm”.

Căn cứ Khoản 1 Điều 390, Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Tấn T 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (08/12/2021).

Giao bị cáo Trần Tấn T cho Ủy ban nhân dân xã KL, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện thủ tục theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Căn cứ Khoản 1, 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 3, Khoản 1 Điều 6, Khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trần Tấn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền háng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (08/12/2021). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần nội dung bản án liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ