- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lưu Tuấn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2021/HS-ST Ngày 25/11/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ - TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Thời và bà Lê Thị Hạnh
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Trực – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2021/ TLST-HS ngày 29/10/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2021/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Lưu Tuấn V – sinh ngày 09/11/1997 tại tỉnh Quảng Ngãi
Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đ và bà Võ Thị Mỹ L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Ông Nguyễn Văn T – sinh năm 1995. Vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn H, xã C, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi
Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Khắc V – sinh năm 1968. Vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn H, xã C, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi
- Ông Lữ Thế Đ – sinh năm 1992. Vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn H, xã C, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:
Vào sáng ngày 28/6/2021 Nguyễn Lưu Tuấn V, SN: 1997, Trú tại: TDP T, phường P đi máy bay từ Sân bay Tân Sơn Nhất (thành phố Hồ Chí Minh) về Sân bay Phù Cát (tỉnh Bình Định). Khi về đến Sân bay Phù Cát, V tiếp tục đón xe ô tô khách đi về nhà ở TDP T, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
Khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày xe ô tô khách đến đèo Bình Đê ( vị trí giáp ranh giữa tỉnh Bình Định và tỉnh Quảng Ngãi) nhưng không vào được địa phận thị xã Đ ( do dịch Covid -19) nên V xuống xe. Tại đèo Bình Đê có Chốt kiểm soát phòng, chống dịch Covid -19 của thị xã Đ, nên V không đi qua chốt mà rẽ theo đường mòn đi vào thôn H, xã C. Trên đường đi V thấy xe mô tô BKS 76N5-9151 của ông Nguyễn Văn T đang để ở lề đường có chìa khóa trên xe không có người trông coi nên Nguyễn Lưu Tuấn V trộm cắp xe mô tô trên và điều khiển đi về hướng thôn T, xã C thì bị lực lượng trực Chốt kiểm soát phòng, chống dịch Covid - 19 tại đường tránh Tây phát hiện lập biên bản vụ việc.
Theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Đức Phổ ngày 16/7/2021 xác định giá trị còn lại của xe mô tô BKS 76N5 - 9151 do Nguyễn Lưu Tuấn V trộm cắp là 3.400.000 đồng.
Cáo trạng số: 47/CT - VKS ngày 25/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố Nguyễn Lưu Tuấn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa, đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo với mức án từ 12 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã trả lại cho người bị hại, người bị hại không yêu cầu gì nên đề nghị miễn xét.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô 76N5 - 9151 cho người bị hại nên không xét
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Đức Phổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Phổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Lưu Tuấn V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở để xác định vào khoảng 15 giờ ngày 28/6/2021 bị cáo đã có hành vi trộm chiếc xe mô tô của ông Nguyễn Văn T đang dựng ở bên lề đường không có người trông coi. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định bị cáo có hành vi trộm cắp tài sản.
Tính chất, mức độ của hành vi: Bị cáo Nguyễn Lưu Tuấn V là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức điều khiển được hành vi của mình, biết trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng để có phương tiện đi lại, lợi dụng sự mất cảnh giác của chủ sở hữu bị cáo trộm cắp tài sản. Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 3.400.000đồng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ truy tố về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với hành vi, hậu quả của bị cáo gây ra và không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hôi. Bị cáo có nghề nghiệp không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bồi thường cho người bị hại, thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự tại Đồn biên phòng Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi và người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xét.
Đối với hành vi không chấp hành các biện pháp phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của bị cáo đã bị Công an thị xã Đức Phổ xử phạt hành chính và bị cáo đã chấp hành xong nên không xét.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổi sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lưu Tuấn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt bị cáo Nguyễn Lưu Tuấn V 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ; thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày cơ quan, tổ chức giao nhiệm vụ giám sát giáo dục nhận được bản án và Quyết định thi hành án. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo
Giao bị cáo Nguyễn Lưu Tuấn V cho Ủy ban nhân dân phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Lưu Tuấn V phải nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Lưu Tuấn V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND TX.Đức Phổ; - Cơ quan CSĐT công an TX.Đức Phổ; - Cơ quan THAHS công an TX.Đức Phổ; - Chi cục THADS TX.Đức Phổ; - Nhà tạm giữ Công an TX.Đức Phổ; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Đức |