- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? 273, 278 và Điều 280 của Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 474 Bộ luật Dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2021/DSST Ngày: 23/4/2021 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Vũ Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hóa
2. Bà Lâm Thị Ngọc Minh
Thư ký phiên Tòa: Bà Trần Thị Vũ Vân- Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 tham gia phiên tòa: Ông Trần
Việt Anh- Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11 xét xử sơ
thẩm công khai vụ án thụ lý số 89/2020/TLST-DS ngày 06 tháng 7 năm 2020 về
việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
17/2021/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 3 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa
số 21/2021/QĐST-DS ngày 24 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Ông Lâm Chấn Đ, sinh năm: 1964
Địa chỉ: 506/46B đường X, Phường X, Quận X, Thành phố X (vắng
mặt);
Người đại diện ủy quyền của nguyên đơn: ông Tô Bá T; địa chỉ: 2.04 Lô
A, chung cư Hà Đô, Phường 3, Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy
ủy quyền số 004516, quyển số 06TP/CC-SCC/HĐGD ngày 03/6/2020 tại Văn
phòng công chứng Tô Khắc Việt), (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Bị đơn: Ông Phạm Huy Q , sinh năm: 1964;
Địa chỉ: 018 Lô B, chung cư X, Phường X, Quận X, Thành phố X (vắng mặt);
Bà Phạm Thị H, sinh năm 1957
Địa chỉ: 152/64/21 X, Phường X, Quận X, Thành phố X (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện nộp ngày 15/6/2020, Bản tự khai ngày 09/7/2020,
và các Biên bản hòa giải ngày 10/8/2020 và ngày 04/12/2020, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Tô Bá T trình bày:
Do quen biết với ông Phạm Huy Q và bà Phạm Thị H từ trước nên ông
Lâm Chấn Đ có cho ông Q và bà H vay số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng, thời hạn vay 02 năm, kể từ ngày 15/5/2013 đến ngày 15/5/2015, không lãi suất, hai bên có lập Hợp đồng vay tiền số công chứng 00009802, quyển số 04TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/5/2013 tại Văn phòng công chứng Đầm Sen.
Đến nay đã quá thời hạn vay nhưng ông Q, bà H chưa trả cho ông Đ số
tiền trên. Do đó, ông Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Phạm Huy Q và bà Phạm Thị H trả một lần toàn bộ số tiền gốc 500.000.000 đồng và lãi suất phát sinh tính từ ngày vi phạm hợp đồng cho đến khi xét xử sơ thẩm, trả một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
* Đối với bị đơn bà Phạm Thị H theo kết quả xác minh của Công an
Phường 3, Quận 11 ngày 07/7/2020 như sau: “Phạm Thị H, sinh năm 1957. Hộ khẩu thường trú tại 152/64/27 X, Phường X, Quận X. Năm 2013 bỏ nhà đi nơi khác, không rõ nơi cư ngụ, không khai báo với chính quyền. Hiện nay địa phương không rõ nơi cư ngụ”.
* Đối với bị đơn ông Phạm Huy Q theo kết quả xác minh của Công an Phường
1, Quận 3 ngày 07/7/2020 như sau: “Ông Phạm Huy Q, sinh năm 1964, có đăng kí hộ khẩu thường trú tại địa chỉ 018 Lô B, Chung cư Nguyễn Thiện Thuật, Phường 1, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh nhung không thực tế cư trú tại địa phương. Ông Q tự ý đi khỏi địa phương từ năm 2015 đến nay, khi đi ông Q không trình báo địa phương địa chỉ nơi đến nên hiện nay ông Q đang ở đâu và làm gì địa phương không rõ”.
Bị đơn bà H thường trú ở Quận 11, ông Q hiện thường trú tại Quận 3, nhưng
trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Q, bà H vẫn vắng mặt không có lý do.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử và thực
hiện các thủ tục tố tụng đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, Thẩm phán vẫn chưa đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 và chậm gửi Quyết định hoãn phiên tòa cho Viện kiểm sát theo quy định tại Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Xét hợp đồng vay tiền giữa ông Đ và ông Q, bà H lập tại Văn
phòng công chứng Đầm Sen có nội dung ông Đcho ông Q và bà H vay số tiền 500.000.000 đồng, thời hạn vay là 02 năm kể từ ngày 15/5/2013 đến ngày 15/5/2015, không lãi suất. Nội dung hợp đồng vay tiền phù hợp với lời trình bày của ông Đ trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án. Hình thức và nội dung hợp đồng vay tiền ngày 15/5/2013 không trái với các quy định tại điểu 471 Bộ luật dân sự năm 2015.
Do ông Q và bà H vi phạm nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn theo hợp đồng nên
có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ về trả tiền nợ gốc. Trong hợp
đồng vay tiền không có thỏa thuận về việc trả lãi do chậm trả nợ khi đến hạn nên
bác yêu cầu của nguyên đơn về tính lãi suất phát sinh trên số tiền nợ gốc tính từ
ngày vi phạm hợp đồng cho đến khi xét xử sơ thẩm theo khoản 4 Điều 474 Bộ
luật dân sự năm 2005.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn ông Đ, buộc bị đơn ông Q và bà H trả số tiền nợ gốc 500.000.000
đồng, trả ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Không chấp
nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Đvề việc buộc bị đơn ông Q và bà H trả tiền
lãi chậm trả trên số tiền nợ gốc tính từ ngày vi phạm hợp đồng cho đến khi xét
xử sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
* Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án:
Ông Phạm Huy Q, bà Phạm Thị H có ký hợp đồng vay tiền với ông Lâm
Chấn Đ ngày 15/5/2013, do đó có cơ sở xác định giữa ông Q, bà H và ông Đcó
giao kết hợp đồng dân sự vay tài sản, đây là tranh chấp vay tài sản. Do bà H hiện
đang thường trú tại địa chỉ 152/64/21 Lạc Long Quân, Phường X, Quận X, Thành
phố X nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 11,
Thành phố Hồ Chí Minh được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều
35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
* Về người tham gia tố tụng: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn
Lâm Chấn Đ là ông Tô Bá T có Đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn ông Phạm
Huy Q, bà Phạm Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn
vắng mặt không có lý do. Vì vậy căn cứ điểm a, b, d khoản 2 Điều 227 và
khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các
đương sự.
Về yêu cầu của các đương sự:
* Xét yêu cầu của nguyên đơn về nợ gốc:
Ông Lâm Chấn Đ có cho ông Phạm Huy Q và bà Phạm Thị H vay số tiền
500.000.000 (năm trăm triệu) đồng, thời hạn vay 02 năm, kể từ ngày 15/5/2013
đến ngày 15/5/2015, không lãi suất, hai bên có lập Hợp đồng vay tiền số công
chứng 00009802, quyển số 04TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/5/2013 tại Văn
phòng công chứng Đầm Sen.
Ông Đkhởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Q và bà H trả một lần toàn bộ
số tiền gốc 500.000.000 đồng. Xét thấy nội dung hợp đồng vay tiền đã được
công chứng hợp pháp, phù hợp với lời trình bày của ông Lâm Chấn Đ trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án. Hình thức và nội dung hợp đồng vay tiền ngày 15/5/2013 không trái với các quy định tại Điểu 471 Bộ luật dân sự năm 2015.
Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 1 Điều 474 Bộ Luật Dân sự 2005 quy
định: “Bên vay tài sản là tiền phải trả đủ tiền khi đến hạn”. Đến nay đã quá thời hạn vay nhưng ông Q, bà H chưa trả cho ông Đsố tiền trên, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền nợ gốc 500.000.000 đồng là có căn cứ nên chấp nhận.
* Về tiền lãi:
Căn cứ vào Hợp đồng vay tiền số công chứng 00009802, quyển số
04TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/5/2013 tại Văn phòng công chứng Đầm Sen có nội dung ông Đcho ông Q và bà H vay số tiền 500.000.000 đồng, không lãi suất.
Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 4 Điều 474 Bộ Luật Dân sự 2005 quy
định: “Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thỏa thuận”.
Xét hợp đồng vay tiền giữa ông Đ và ông Q, bà H không có thỏa thuận về
việc trả lãi do chậm trả nợ khi đến hạn nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc tính lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc tính từ ngày vi phạm hợp đồng cho đến khi xét xử sơ thẩm.
Từ những nhận định trên, xét yêu cầu của nguyên đơn và đề nghị của đại
diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 là có cơ sở và phù hợp quy định Pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về nợ gốc; Không chấp nhận yêu cầu về việc trả lãi đối với khoản nợ gốc trên.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, yêu cầu của ông Lâm Chấn Đ được chấp nhận nên bị đơn ông Phạm Huy Q và bà Phạm Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn ông Lâm Chấn Đ đã
nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1
Điều 40, Điểm a, b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều
273, 278 và Điều 280 của Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào Điều 471 và Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lâm Chấn Đ.
Buộc ông Phạm Huy Q và bà Phạm Thị H có nghĩa vụ thanh toán cho
ông Lâm Chấn Đ số tiền nợ gốc 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng. Trả một
lần sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Trong trường hợp ông Q, bà H chậm thực hiện nghĩa vụ nêu trên thì ông Q,
bà H còn phải trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả cho ông Lâm Chấn Đ theo mức
lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
2. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Lâm Chấn Đ về việc
buộc bị đơn ông Phạm Huy Q và bà Phạm Thị H trả tiền lãi chậm trả trên số tiền
nợ gốc tính từ ngày vi phạm hợp đồng cho đến khi xét xử sơ thẩm.
3. Án phí dân sự sơ thẩm: ông Phạm Huy Q và bà Phạm Thị H phải chịu
án phí dân sự sơ thẩm là 24.000.000 (hai mươi bốn triệu) đồng.
Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí là 12.800.000 (mười hai triệu tám trăm
nghìn) đồng cho nguyên đơn ông Lâm Chấn Đ theo biên lai thu số
AA/2019/0015653 ngày 29/6/2020 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 11,
Thành phố Hồ Chí Minh
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, thời
hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nguyên đơn, bị đơn nhận được bản án
hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Quận 11; - Chi cục THADS Quận 11; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Vũ Vân |