vanban.org

Bản án 45/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Đ:

1/. Buộc ông Thạch S1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền 23.443.569 đồng, gồm 15.073.081 đồng nợ gốc, 1.406.919đồng lãi trong hạn, 6.963.569 đồng còn nợ theo Hợp đồng vay trả góp số T16069/02. Kể từ ngày 25/5/2021, ông Thạch S1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng Đ - ông Thạch S1 tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Đ:
  • Căn cứ chính? Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN Về việc ban hành Quy chế cho…; Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2021/DS-ST
Ngày: 24-5-2021
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Như.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Thành Tựu.

Ông Trần Văn Phơ.

- Thư ký phiên toà: Ông Huỳnh Quốc Thắng, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Đồ Ngọc Tuyền - Kiểm sát viên.

Ngày 24-5- 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 71/2021/TLST-DS ngày 19-02 -2021 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2021/QĐXXST-DS ngày 15-04- 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Đ (sau đây viết tắt là Ngân hàng); Địa chỉ: Số 257 đường Q, Khóm 1, Phường 7, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng;

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Hứa Thị Bích S; Địa chỉ: Số 257 đường Q, Khóm 1, Phường 7, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (Theo Quyết định ủy quyền số 32/QĐ-DASTG ngày 24-5-2021 của Giám đốc Ngân hàng Đ – Chi nhánh Sóc Trăng –có mặt)

- Bị đơn: Ông Thạch S1, sinh năm 1983; Nơi thường trú: Số 457 Đường L, Khóm 5, Phường 3, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 18/01/2021 của Ngân hàng và tại phiên tòa người đại diện bà Hứa Thị Bích S trình bày:

Vào ngày 15-4-2015, ông Thạch S1 đã ký Hợp đồng vay trả góp số T16069/02 với Ngân hàng Đ để vay là 37.000.000 đồng, lãi suất trong hạn 8%/năm, lãi suất quá hạn 12%/năm, thời hạn vay 36 tháng từ ngày 15-4-2015 đến ngày 15-4-2018, mục đích vay tiêu dùng, hình thức vay trả góp, lãi tính theo dư nợ ban đầu, biện pháp bảo đảm vay tín chấp.

Trong quá trình vay, từ ngày 15-4-2015 đến ngày 24-5-2021, ông Thạch S1 chỉ trả cho Ngân hàng Đ được tiền vốn 21.926.919 đồng, tiền lãi trong hạn 7.473.081 đồng, tổng cộng là 29.400.000 đồng.

Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nợ đến hạn thanh toán nhưng đến ông Thạch S1 vẫn không thanh toán nợ vay cho Ngân hàng.

Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông Thạch S1 trả số tiền còn nợ là 23.443.569 đồng, gồm 15.073.081 đồng nợ gốc, 1.406.919đồng lãi trong hạn, 6.963.569 đồng quá hạn và tiền lãi phát sinh theo lãi suất của hợp đồng cho đến khi trả dứt nợ.

Ngân hàng đã giao nộp các tài liệu, chứng cứ gồm: Một (01) Hợp đồng vay trả góp số T16069/02 ngày 15-4-2015. (bản sao chứng thực); Một (01) Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 08-3-2015 của ông Thạch S1. (bản sao chứng thực); Một (01) Giấy chứng minh nhân dân ông Thạch S1. (bản photo); Một (01) Sổ hộ khẩu chủ hộ Thạch Wath. (bản photo); Một (01) Quyết định ủy quyền thường xuyên số 520/QĐ-DAB-PC ngày 08-5-2019 Tổng Giám đốc Ngân hàng Đ. (bản sao chứng thực); Một (01) Quyết định tái bổ nhiệm số 24/QĐ-DAB-HĐQT ngày 12-3-2020 của Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng Đ. (bản sao chứng thực); Một (01) Quyết định thành lập chi nhánh Sóc Trăng trực thuộc Ngân hàng Đ số 40/QĐ-HĐQT-DAB ngày 25-7-2011 của Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng Đ. (bản sao chứng thực); Một (01) Quyết định ủy quyền số 10/QĐ-STG ngày 22-3-2021 của Giám đốc Ngân hàng Đ – Chi nhánh Sóc Trăng (bản chính); Một (01) Sao kê hoạt động của khánh hàng vay và bảng tính lãi quá hạn hồ sơ khách hàng từ ngày 15/4/2015 đến ngày 24/05/2021 (bản chính)

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng cho rằng Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự: Ông Thạch S1 không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu mà Ngân hàng đã trình bày và giao nộp cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Thạch S1 trả số tiền gốc, lãi còn nợ phát sinh từ Hợp đồng vay trả góp số T16069/02, ông S có địa chỉ tại số Số 457 Đường L, Khóm 5, Phường 3, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp là Tranh chấp hợp đồng tín dụng, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

Đối với ông Thạch S1 quá trình tố tụng Tòa án tiến hành cấp tống đạt văn bản tố tụng đối với ông Thạch S1 theo địa chỉ mà nguyên đơn cung cấp trong Hợp đồng, qua xác minh ông Thạch S1 không có mặt tại địa chỉ số 457 Đường L, Khóm 5, Phường 3, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, Tòa án thu thập thông tin ông S1 chưa có thông tin xuất nhập cảnh. Theo quy định tại khoản 3 Điều 40; điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015, ông S1 không có mặt tại địa chỉ trên và không thông báo cho nguyên đơn về việc thay đổi nơi cư trú thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiến hành giải quyết theo thủ tục chung theo quy định điểm e khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Thạch S1 từ khi Tòa án thông báo thụ lý vụ án đến đưa vụ án ra xét xử đã được niêm yết đảm bảo theo quy định tại khoản 5 Điều 177 và Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định: Ông Thạch S1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với ông S1.

Theo các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh và tài liệu do Ngân hàng cung cấp, căn cứ khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định: Vào ngày 15-4-2015, ông Thạch S1 đã ký Hợp đồng vay trả góp số T16069/02 với Ngân hàng Đ để vay số tiền là 37.000.000 đồng, lãi suất trong hạn 8%/năm, lãi suất quá hạn 12%/năm, thời hạn vay 36 tháng từ ngày 15-4-2015 đến ngày 15-4-2018, mục đích vay tiêu dùng, hình thức vay trả góp, lãi tính theo dư nợ ban đầu, biện pháp bảo đảm vay tín chấp. Trong quá trình vay, từ ngày 15-4-2015 đến ngày 24-5-2021, ông Thạch S1 chỉ trả cho Ngân hàng Đ được tiền vốn 21.926.919 đồng, tiền lãi trong hạn 7.473.081 đồng, tổng cộng là 29.400.000 đồng. Ông Thạch S1 còn nợ Ngân hàng số tiền là 23.443.569 đồng, gồm 15.073.081 đồng nợ gốc, 1.406.919 đồng lãi trong hạn, 6.963.569 đồng quá hạn và tiền lãi phát sinh theo lãi suất của hợp đồng cho đến khi trả dứt nợ.

Do ông Thạch S1 vi phạm ngh a vụ trả tiền theo định kỳ nên việc Ngân hàng yêu cầu trả số tiền còn nợ nêu trên là có căn cứ, ph hợp với nội dung th a thuận về trả nợ gốc và lãi, chuyển nợ quá hạn, tính lãi tiền vay của sử dụng thẻ tín dụng và quy định tại Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng, Điều 11, điểm c khoản 2 Điều 24 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (đã được sửa đổi, bổ sung).

Từ những phân tích trên, đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ngân hàng không phải chịu; Ông Thạch S1 phải chịu 1.172.178 đồng theo khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 95, điểm e khoản 1 Điều 192, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng; Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2011 của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước (đã được sửa đổi, bổ sung); khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Đ:

1/. Buộc ông Thạch S1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền 23.443.569 đồng, gồm 15.073.081 đồng nợ gốc, 1.406.919đồng lãi trong hạn, 6.963.569 đồng còn nợ theo Hợp đồng vay trả góp số T16069/02.

Kể từ ngày 25/5/2021, ông Thạch S1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất đã th a thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có th a thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất mà ông Thạch S1 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.

2/. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Thạch S1 phải chịu là 1.172.178 đồng (Một triệu một trăm bảy mươi hai nghìn một trăm bảy mươi tám đồng)

Ngân hàng Ngân hàng không phải chịu, trả lại cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 570.210 đồng theo biên lai số 0005075 ngày 29/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

3/. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày, kể từ ngày bản án được cấp, tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung).

Cỡ chữ