vanban.org

Bản án 45/2020/KDMT-PT — Tranh chấp về đầu tư tài chính, ngân hàng

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 15/05/2020 Kinh doanh thương mại Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/05/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về đầu tư tài chính, ngân hàng — án kinh doanh thương mại — "Ngân hàng P - Ngân hàng TMCP S"
  • Căn cứ chính? Điều 317 Luật Thương mại; Điều 319 Luật Thương mại
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HÀ!NỘI!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2020/KDMT-PT
Ngày:15/5/2020
V/v: Tranh chấp hợp đồng bảo lãnh!

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HÀ!NỘI!

Với!Hội!đồng!xét!xử!phúc!thẩm!gồm!có:!

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Bà!Nguyễn!Thị!Thúy!Hạnh! Các thẩm phán:

Bà!Nguyễn!Thị!Hồng!Hạnh!

Bà!Ngô!Tuyết!Băng! Thư ký phiên tòa: Bà!Đoàn!Phương!Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà! Nguyễn!Thị!Hoa - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội

Ngày 15/5/2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 21/2020/TLPT- KDTM ngày 06/01/2020, về việc: “Tranh chấp hợp đồng bảo lãnh”. Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 23/2019/KDTM-ST ngày 30/10/2019 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 39/2020/QĐXXPT-KDTM ngày 24/02/2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 100/2020/QĐ-HPT ngày 23/3/2020; Thông báo thay đổi thời gian mở lại phiên tòa số 110/2020/TB-TA ngày 15/4/2020, giữa: Nguyên!đơn:!Ngân!hàng!P!! Địa chỉ: Số 25A, phố C, quận Đ, thành phố Hà Nội! Người đại diện theo: Ông!Đào!Quang!T; Chức vụ: Tổng Giám đốc Người đại diện theo ủy quyền: Ông!Thái!Hồng!Đ; Chức vụ: Trưởng ban tín dụng xuất khẩu Ngân hàng (Văn bản ủy quyền số 2105/GUQ.NHPT-PC ngày 09/10/2019) Các luật sư Lại!Văn!D,!Nguyễn!Lương!Th thuộc Công ty Luật TNHH T - Đoàn luật sư thành phố Hà Nội bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn. Bị!đơn:!Ngân!hàng!TMCP!S!(S)! Trụ sở: Số 77, phố T, quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông!Nguyễn!Văn!L; Chức vụ: Tổng giám đốc Người đại diện theo ủy quyền: Bà!Đinh!Thị!Kim!A; Chức vụ: Giám đốc ban Pháp chế và Tuân thủ

Bà!Hoàng!Thị!P; Chức vụ: Trưởng phòng Thẩm định văn bản - Ban Pháp chế và Tuân thủ

Bà! Nguyễn! Thị! V; Chức vụ: Chuyên viên Ban Pháp chế và Tuân thủ

(Giấy ủy quyền số 305/UQ-TGĐ ngày 09/9/2019)

Người!có!quyền!lợi!và!nghĩa!vụ!liên!quan:! Công!ty!Cổ!phần!T! Trụ sở: Lô X khu công nghiệp T, phường P, quận O, thành phố Cần Thơ Người đại diện theo pháp luật: Ông!Nguyễn!Thanh!H; Chức vụ: Tổng giám đốc! Người đại diện theo ủy quyền: Ông!Triệu!Việt!T, bà!Phạm!Thị!Thanh!H. (Giấy ủy quyền số 02/2020/UQ-TGĐ ngày 19/02/2020) Bà!Phạm!Thị!Diệu!H - Sinh năm 1961 Ông Trần!Văn!Tr - Sinh năm 1966 Cùng ĐKHKTT tại: Số 35 NVS, phường T, quận N, Thành phố Cần Thơ. Nơi cư trú cuối cùng: Số 468 Đường X, phường H, quận N, Thành phố Cần Thơ.

(Các"đương"sự"có"mặt;"luật"sư"D"và"luật"sư"Th"vắng"mặt"tại"phiên"tòa)"

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN!

Ngân hàng P (Gọi tắt là Ngân hàng P) có ký kết 17 Hợp đồng tín dụng cho vay đối với Công ty Cổ phần T (nay là Công ty Cổ phần T, gọi tắt là Công ty T) trong đó có 01 Hợp đồng vay tín dụng đầu tư và 16 Hợp đồng vay tín dụng xuất khẩu. Cụ thể như sau: S Số!Hợp!đồng,! Hạn!mức!!cho!vay! Mục!đích!vay!

Tài!sản!thế!chấp! T

ngày!ký!

(VNĐ)! T!

04/2009/HĐT

Đầu tư dự án Tài sản hình thành trong

DĐT-NHPT

41.017.738.271 Trung tâm sản tương lai gồm giá trị xây 1 ngày 30/7/2009

xuất cá tra giống lắp, thiết bị và các chi phí

tại lô X Khu CN khác có tổng giá trị

T

139.347.646.000đ

18/2010/TDX

Thực

hiện Tài sản hình thành từ vốn

KHM-NHPT

600.000.000.000 phương án sản vay thể hiện dưới dạng

ngày 08/3/2010

xuất cá tra fillet nguyên liệu, thành phẩm, 2

xuất khẩu

hàng hóa xuất khẩu đang đi

trên đường theo hợp đồng

xuất khẩu hoặc L/C giá trị

600.000.000.000đ; Nhà máy

GTGT và nhà máy chế biến

phụ phẩm theo hợp đồng trị

gái 62.900.000.000đ; Cầm

cố tiền gửi theo HĐ cầm cố

tiền gửi 80.253.000.000đ;

Cổ phần sở hữu của bà

Phạm Thị Diệu Hiền trị giá

thế chấp 125.000.000.000đ

đã đăng ký giao dịch bảo

đảm ngày 12/01/2011 số

lượng 25 triệu cổ phần.

05/2011/HĐT

Thực

hiện Tài sản hình thành từ vốn 3 DXK-NHPT-

14.700.000.000 phương án sản vay thể hiện dưới dạng

CT-HG ngày

xuất kinh doanh nguyên liệu, thành phẩm,

09/3/2011

cá tra fillet xuất hàng hóa xuất nhập khẩu

khẩu

đang đi trên đường theo hợp

đồng xuất khẩu hoặc L/C

giá trị 14.700.000.000đ;

Các tài sản khác trị giá

4.410.000.000đ

10/2011/HĐT

Thực

hiện Tài sản hình thành từ vốn 4 DXK-NHPT-

16.850.000.000 phương án sản vay thể hiện dưới dạng

CT-HG ngày

xuất kinh doanh nguyên liệu, thành phẩm,

11/3/2011

cá tra fillet xuất hàng hóa xuất khẩu đang đi

khẩu

trên đường theo hợp đồng

xuất khẩu hoặc L/C giá trị

16.850.000.000đ; Các tài

sản

khác

trị

giá

5.055.000.000đ

11/2011/HĐT

Thực

hiện Tài sản hình thành từ vốn 5 DXK-NHPT-

16.220.000.000 phương án sản vay thể hiện dưới dạng

CT-HG ngày

xuất kinh doanh nguyên liệu, thành phẩm,

11/3/2011

cá tra fillet xuất hàng hóa xuất khẩu đang đi

khẩu

trên đường theo hợp đồng

xuất khẩu hoặc L/C giá trị

16.220.000.000đ; Tài sản

khác trị giá 4.866.000.000đ

13/2011/HĐT

Thực

hiện Tài sản hình thành từ vốn 6 DXK-NHPT-

16.500.000.000 phương án sản vay thể hiện dưới dạng

CT-HG ngày

xuất kinh doanh nguyên liệu, thành phẩm,

14/3/2011

cá tra fillet xuất hàng hóa xuất khẩu đang đi

khẩu

trên đường theo hợp đồng

xuất khẩu hoặc L/C giá trị

16.500.000.000đ; Tài sản

khác trị giá 4.950.000.000đ

14/2011/HĐT

Thực hiện phương Tài sản hình thành từ vốn 7 DXK-NHPT-

15.400.000.000 án sản xuất kinh vay thể hiện dưới dạng

CT-HG

doanh cá tra fillet nguyên liệu, thành phẩm,

ngày14/3/2011

xuất khẩu

hàng hóa xuất nhập khẩu

đang đi trên đường theo hợp

đồng xuất khẩu hoặc L/C

giá trị 15.400.000.000đ; Tài

sản

khác

trị

giá

4.620.000.000đ

15/2011/HĐT

Thực

hiện Tài sản hình thành từ vốn 8 DXK-NHPT-

15.900.000.000 phương án sản vay thể hiện dưới dạng

CT-HG

xuất kinh doanh nguyên liệu, thành phẩm,

ngày14/3/2011

cá tra fillet xuất hàng hóa xuất khẩu đang đi

khẩu

trên đường theo hợp đồng

xuất khẩu hoặc L/C giá trị

15.900.000.000đ; Tài sản

khác trị giá 4.700.000.000đ

19/2011/HĐT

Thực

hiện Tài sản hình thành từ vốn 9 DXK-NHPT-

16.000.000.000 phương án sản vay thể hiện dưới dạng

CT-HG

xuất kinh doanh nguyên liệu, thành phẩm,

ngày16/3/2011

cá tra fillet xuất hàng hóa xuất khẩu đang đi

khẩu

trên đường theo hợp đồng

xuất khẩu hoặc L/C giá trị

16.000.000.000đ; Tài sản

khác trị giá 4.800.000.000đ

20/2011/HĐT

Thực

hiện Tài sản hình thành từ vốn 10 DXK-NHPT-

15.000.000.000 phương án sản vay thể hiện dưới dạng

CT-HG

xuất kinh doanh nguyên liệu, thành phẩm,

ngày16/3/2011

cá tra fillet xuất hàng hóa xuất khẩu đang đi

khẩu

trên đường theo hợp đồng

xuất khẩu hoặc L/C giá trị

15.000.000.000đ; Tài sản

khác trị giá 4.400.000.000đ 11 30/2011/HĐT

Thực hiện phương Tài sản hình thành từ vốn

DXK-NHPT-

15.500.000.000 án sản xuất kinh vay thể hiện dưới dạng

CT-HG ngày

doanh cá tra fillet nguyên liệu, thành phẩm,

21/3/2011

xuất khẩu

hàng hóa xuất khẩu đang

trên đường đi theo hợp đồng

xuất khẩu hoặc L/C giá trị

15.500.000.000đ; Tài sản

khác trị giá 4.650.000.000đ

31/2011/HĐT

Thực

hiện Tài sản hình thành từ vốn 12 DXK-NHPT-

17.500.000.000 phương án sản vay thể hiện dưới dạng

CT-HG ngày

xuất kinh doanh nguyên liệu, thành phẩm,

21/3/2011

cá tra fillet xuất hàng hóa xuất khẩu đang đi

khẩu

trên đường theo hợp đồng

xuất khẩu hoặc L/C giá trị

17.500.000.000đ; Tài sản

khác trị giá 5.250.000.000đ 13 34/2011/HĐT

Thực

hiện Tài sản hình thành từ vốn

DXK-NHPT-

18.600.000.000 phương án sản vay thể hiện dưới dạng

CT-HG ngày

xuất kinh doanh nguyên liệu, thành phẩm,

22/3/2011

cá tra fillet xuất hàng hóa xuất khẩu đang đi

khẩu

trên đường theo hợp đồng

xuất khẩu hoặc L/C giá trị

18.600.000.000đ; Tài sản

khác trị giá 5.580.000.000đ 14 35/2011/HĐT

Thực

hiện Tài sản hình thành từ vốn

DXK-HPT-

16.800.000.000 phương án sản vay thể hiện dưới dạng

CT-HG ngày

xuất kinh doanh nguyên liệu, thành phẩm,

22/3/2011

cá tra fillet xuất hàng hóa xuất khẩu đang đi

khẩu

trên đường theo hợp đồng

xuất khẩu hoặc L/C giá trị

16.800.000.000đ; Tài sản

khác trị giá 5.040.000.000đ

45/2011/HĐT

Thực

hiện Tài sản hình thành từ vốn 15 DXK-NHPT-

17.603.000.000 phương án sản vay thể hiện dưới dạng

CT-HG ngày

xuất kinh doanh nguyên liệu, thành phẩm,

30/5/2011

cá tra fillet xuất hàng hóa xuất khẩu đang đi

khẩu

trên đường theo hợp đồng

xuất khẩu hoặc L/C giá trị

17.603.000.000đ; Tài sản

khác trị giá 5.280.000.000đ

46/2011/HĐT

Thực

hiện Tài sản hình thành từ vốn 16 DXK-NHPT-

15.760.000.000 phương án sản vay thể hiện dưới dạng

CT-HG ngày

xuất kinh doanh nguyên liệu, thành phẩm,

20/7/2011

cá tra fillet xuất hàng hóa xuất khẩu đang đi

khẩu

trên đường theo hợp đồng

xuất khẩu hoặc L/C giá trị

15.760.000.000đ; Tài sản

khác trị giá 4.728.000.000đ

47/2011/HĐT

Thực

hiện Tài sản hình thành từ vốn 17 DXK-HPT-

17.665.000.000 phương án sản vay thể hiện dưới dạng

CT-HG ngày

xuất kinh doanh nguyên liệu, thành phẩm,

22/7/2011

cá tra fillet xuất hàng hóa xuất nhập khẩu

khẩu

đang đi trên đường theo hợp

đồng xuất khẩu hoặc L/C

giá trị 17.665.000.000đ; Tài

sản

khác

trị

giá

5.299.500.000đ

Ngoài các hợp đồng tín dụng chính, Ngân hàng P và Công ty T còn ký kết thêm hợp đồng bổ sung và sửa đổi kèm theo.

Thực hiện các Hợp đồng tín dụng nêu trên, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty T. Tuy nhiên Công ty mới chỉ thanh toán được một phần nợ thì mất khả năng thanh toán. Tính đến ngày Ngân hàng P khởi kiện (31/7/2016) thì số nợ của Công ty T tại Ngân hàng P là 825.444.421.218đ.! Trong đó nợ gốc là 310.110.619.629đ; nợ lãi 515.333.801.589đ.

Ngày 24/8/2012 Ngân hàng TMCP S (Gọi tắt là Ngân hàng S) phát hành Thư bảo lãnh số 078.2012/BLTT/SHBHo cam kết bảo lãnh không hủy ngang cho nghĩa vụ trả nợ của Bên được bảo lãnh là Công ty T đối với Bên nhận bảo lãnh là Ngân hàng P. Giá trị bảo lãnh: Bao gồm toàn bộ nợ gốc, nợ lãi còn lại, lãi phát sinh và các nghĩa vụ tài chính khác theo các hợp đồng tín dụng đã ký giữa Công ty T và Chi nhánh Ngân hàng P cho đến khi hoàn tất nghĩa vụ trả nợ thay cho Công ty. Tổng số nợ gốc, nợ lãi của Công ty tại Ngân hàng tính đến ngày 20/8/2012 là 421.772.280.530đ.

Để có được Thư bảo lãnh nêu trên, ngày 26/7/2012 các bên gồm: Ngân hàng P (V); Ngân hàng TMCP S (S) và Công ty Cổ phần T (tên cũ của Công ty T) đã có buổi làm việc thể hiện bằng Biên bản làm việc với nội dung: Ngân hàng S phát hành thư bảo lãnh cho Công ty T để thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay với Ngân hàng P tại các hợp đồng tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu đã ký giữa Công ty T và Ngân hàng P. Ngân hàng P cam kết giải chấp toàn bộ tài sản bảo đảm tiền vay cho Công ty T đồng thời ký biên bản bàn giao Giấy chứng nhận sở hữu cổ phần cùng toàn bộ tài sản và hồ sơ pháp lý của các tài sản bảo đảm tiền vay cho Ngân hàng S khi Thư bảo lãnh của Ngân hàng S có hiệu lực. Công ty T phối hợp với Ngân hàng S và Ngân hàng P để được Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Cần Thơ ghi nhận Ngân hàng S là cổ đông trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Công ty T với tỷ lệ nắm giữ 25.000.000 cổ phần, tương đương 50% cổ phần vốn điều lệ của Công ty T thay bà Phạm Thị Diệu H.

Vì Công ty T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng P khởi kiện yêu cầu Toà án buộc Ngân hàng S thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho Công ty T theo Thư bảo lãnh đã phát hành với số tiền gốc và lãi tính đến thời điểm khởi kiện (31/7/2016) gồm: 825.444.421.218đ. Trong đó: 788.069.337.499đ nợ gốc và lãi của tín dụng xuất khẩu; 37.375.083.719đ nợ gốc và lãi của tín dụng đầu tư.

Tính đến ngày xét xử sơ thẩm (20/10/2019) thì số nợ Ngân hàng P yêu cầu S phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì tổng nợ cả gốc và lãi là 310.110.619.629đ (gốc) + 905.548.633.959đ (lãi) =1.215.659.253.588đ (Trong đó nợ tín dụng xuất khẩu là 287.611.381.358đ (gốc) và 874.858.562.285đ (lãi) ; nợ tín dụng đầu tư là 22.499.238.271đ (gốc) và 30.690.071.674 (lãi)).

Ngân!hàng!TMCP!S!(S) trình bày: Thực hiện Quyết định của Ngân hàng Nhà nước sát nhập Ngân hàng TMCP N (H) vào Ngân hàng S, ngày 22/8/2012 sau khi hoàn thành các thủ tục sát nhập, Ngân hàng S phải xử lý các ngay các khoản nợ xấu của Công ty T tại Ngân hàng Đ, Ngân hàng P...Với tư cách là đơn vị tiếp nhận và các khoản nợ xấu của Công ty T (Công ty đang có nguy cơ bị phá sản) nhưng với tinh thần trách nhiệm cùng xã hội và hành động đẹp đầy nhân văn trong kinh doanh, Ngân hàng S nhận nhiệm vụ tái cấu trúc toàn diện Công ty T (bao gồm cả nợ xấu tại Ngân hàng H và các tổ chức tín dụng khác). Thực hiện nhiệm vụ tái cấu trúc, Ngân hàng S buộc phải nắm quyền sở hữu và kiểm soát Công ty T nhằm bảo đảm an toàn pháp lý và đủ thẩm quyền tái cấu trúc doanh nghiệp. Thời điểm này, theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Công ty T thì cổ đông sáng lập là bà Phạm Thị Diệu H sở hữu 25.000.000 cổ phần (chiếm 50% vốn điều lệ Công ty) nhưng thực tế thì Hội đồng Quản trị của Công ty đã phát hành khống 02 Giấy chứng nhận 25.000.000đ cổ phần đứng tên bà Diệu H để làm tài sản bảo đảm việc vay vốn tại Ngân hàng Đ, Ngân hàng P và để bán cho Công ty Tư vấn Đầu tư và Dịch vụ H. Cũng do tranh chấp 25.000.000đ cổ phần này nên để có thể sở hữu số cổ phần này và hoàn thiện thủ tục thay đổi đăng ký kinh doanh, Ngân hàng S buộc phải phát hành Thư bảo lãnh thanh toán cho Công ty T để Ngân hàng Đ (các bên nhận bảo lãnh) giải tỏa số cổ phần nêu trên.

Trước khi phát hành Thư bảo lãnh thanh toán, ngày 26/7/2012 các bên gồm: Ngân hàng S, Ngân hàng P và Công ty T đã tiến hành ký kết Biên bản làm việc 3 bên, ngày 24/8/2012 Ngân hàng S đã phát hành Thư bảo lãnh mang số 078.2012/BLTT/SHBHo với trị giá bảo lãnh là toàn bộ dư nợ của Công ty T tại Ngân hàng P gồm nợ gốc, nợ lãi cùng dư nợ lãi phát sinh và các nghĩa vụ tài chính khác theo các Hợp đồng tín dụng đã ký giữa Công T với Ngân hàng P tính đến ngày 20/8/2012 là 421.772.280.530đ (chưa gồm lãi phát sinh cho đến khi hoàn tất nghĩa vụ trả nợ thay).

Điều kiện có hiệu lực của Thư bảo lãnh là kể từ khi Ngân hàng P giải chấp toàn bộ tài sản, hồ sơ tài sản và các hình thức bảo đảm cho Công ty Ttheo nội dung đã cam kết tại Biên bản làm việc giữa 3 bên ngày 26/7/2012.

Ngày 24/8/2012 Công ty T và Ngân hàng P ký Biên bản bàn giao hồ sơ tài sản, nội dung Ngân hàng đồng ý giải chấp toàn bộ tài sản cùng 25.000.000 cổ phiếu của bà Diệu H và các tài sản, hồ sơ pháp lý các tài sản bảo đảm cho Ngân hàng S quản lý.

Trước yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán của Ngân hàng Đ, Ngân hàng S không đồng ý bởi:

Ngân hàng P có sai phạm trong quá trình cho vay đối với các khoản vay ngắn hạn thông qua việc lập khống các chứng từ để làm mục đích vay vốn với số tiền giải ngân lớn, cụ thể là hoạt động thẩm định cho vay đối với các khoản vay ngắn hạn với mục đích cho vay thanh toán tiền mua nguyên liệu. Việc để các chứng từ khống này lọt qua quá trình thẩm định tín dụng và cấp tín dụng ngắn hạn với số lượng tiền lớn như trên cho thấy quá trình thẩm định cấp tín dụng của Ngân hàng P có nhiều sai phạm cần phải xem xét và làm rõ.

Cuối năm 2011, Công ty T đã lâm vào tình cảnh khó khăn, khả năng trả nợ yếu nhưng Ngân hàng P vẫn tiếp tục giải ngân. Các khoản vay ngắn hạn này không được thẩm định đúng quy định dẫn đến việc bà H (Giám đốc Công ty T) có khả năng trục lợi đối với số tiền nói trên. Mặc dù các khoản vay mang danh Công ty nhưng được lập khống các chứng từ phục vụ mục đích vay vốn nên không có chứng từ để khẳng định số tiền được dùng có hợp pháp hay không?

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 8 Quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/6/2006 và theo quy định tại Khoản 2 Điều 10 Thông tư số 07/2015/TT-NHNN ngày 25/6/2015 thì Tổ chức tín dụng chỉ được xem xét, quyết định cấp bảo lãnh cho khách hàng khi nghĩa vụ được bảo lãnh là nghĩa vụ tài chính hợp pháp. Do việc phát hành Thư bảo lãnh không như thông thường như đã nêu trên nên nếu chưa làm rõ được tính hợp pháp của các quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng P và Công ty T thời điểm trước, Thư bảo lãnh sẽ không thể phát sinh hiệu lực do không đáp ứng được quy định về bảo lãnh ngân hàng. Cụ thể:

- Sai phạm trong việc thẩm định Tài sản bảo đảm, thẩm định mục đích sử dụng vốn vay liên quan đến các tài sản tại lô X khu Công nghiệp T, phường P, quận Ô:

Theo hợp đồng tín dụng số 04/2009/HĐTDĐT - NHPT ký ngày 30/7/2009 Ngân hàng P đã cho Công ty T vay số tiền theo hạn mức vay tối đa là 50 tỷ đồng. Tuy nhiên cho đến khi bàn giao tài sản (24/8/2012), Ngân hàng P cũng không thể bàn giao được tài sản này do đến thời điểm đó tài sản cũng chưa được hình thành. Qua quá trình kiểm tra thực tế, Ngân hàng S được biết tài sản này do Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại D (một công ty con của bà H) xây dựng, bà Phạm Thị Diệu H đồng thời là Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Giám đốc Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại D và là Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty T. Với cương vị là Chủ tịch 2 Công ty, bà H ủy quyền cho cấp dưới ký kết hồ sơ, hợp đồng xây dựng. Hồ sơ công trình không có chào giá, đấu thầu, giá trị công trình được kê khai lớn hơn nhiều so với giá trị thực tế. Cho đến nay, do không có giấy tờ hoàn công, tài sản không tồn tại nên không thể đăng ký được tài sản.

- Sai phạm trong việc thẩm định Tài sản bảo đảm là cổ phần của bà Phạm Thị Diệu H tại Công ty T: Bà H sở hữu 25.000.000 cổ phần chiếm 50% vốn điều lệ của Công ty T (Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 1800604806). Ngày 30/7/2008, Ngân hàng TMCP Đ (B) đã nhận cầm cố 25.000.000 cổ phần này của bà H để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty T tại Ngân hàng B theo Hợp đồng bảo đảm số 566a/2010/HĐ ngày 04/8/2010. Thế nhưng sau đó thì 25.000.000 cổ phần này lại được dùng để bảo đảm cho nghĩa vụ của Công ty T ở Ngân hàng P theo Hợp đồng bảo đảm số 01/2011/HĐCC/NHPTVN ngày 11/11/2011. Không chỉ dừng ở việc cầm cố 25.000.000 cổ phần này tại 02 ngân hàng nêu trên, bà H tiếp tục tham gia giao dịch bán có kỳ hạn (có thỏa thuận mua lại) cho Công ty H thể hiện tại Hợp đồng mua bán kỳ hạn số 51/2011/HBB-PTDH ngày 13/7/2011 để nhận 125 tỷ đồng. Như vậy giao dịch cho vay của Ngân hàng P và Công ty T là cơ sở để Ngân hàng S phát hành Thư bảo lãnh có nhiều sai phạm và chưa phù hợp với quy định của pháp luật. Đồng thời, tài sản bảo đảm là đối tượng bàn giao theo Biên bản bàn giao tài sản 3 bên không đầy đủ, không đúng như đã thỏa thuận nên không có căn cứ để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với Ngân hàng P.

- Biên bản thỏa thuận ngày 26/7/2012 là căn cứ để Ngân hàng S phát hành Thư bảo lãnh do ông Trần Văn Tr - đại diện Công ty T ký không đủ thẩm quyền: Tại thời điểm ký thỏa thuận ngày 26/7/2012, ông Trần Văn Tr không có chức danh gì tại Công ty, ông Tr không phải là Thành viên HĐQT cũng không phải người lao động tại Công ty. Phía Công ty T từ chối tư cách của ông Tr trong các thỏa thuận tại Biên bản làm việc ngày 26/7/2012. Việc bà H ủy quyền cho ông Tr điều hành Công ty không phù hợp với Điều lệ của Công ty. Biên bản thỏa thuận ngày 26/7/2012 cũng không có hiệu lực vì ông Tr không phải là người đại diện hợp pháp của Công ty T.

Đề nghị Tòa án tuyên Thư bảo lãnh số 078.2012.BLTT/SHBHo ngày 24/8/2012 của Ngân hàng S chưa phát sinh hiệu lực.

Công! ty! Cổ! phần! T! (Công! ty! T) trình bày: Vào cuối năm 2011 đầu năm 2012 do bộ máy lãnh đạo điều hành cũ của Công ty không làm tốt công tác quản lý nên Công ty T rơi vào tình trạng lỗ lũy kế hơn 1.000.000.000.000 đồng, âm vốn chủ sở hữu khoảng 2.000.000.000.000đ, mất khả năng trả nợ và bị một số tổ chức, cá nhân gửi yêu cầu tới Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ đề nghị mở thủ tục phá sản. Trong hoàn cảnh đó, thì khoảng tháng 2/2012 bà Hiền (Chủ tịch hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Công ty T) rời khỏi Việt Nam. Cùng thời điểm này hàng loạt các cá nhân, tổ chức, ngân hàng trong có Ngân hàng P đứng trước nguy cơ không thu hồi được khoản vay.

Trước tình hình này, Ngân hàng S trong quá trình sát nhập H (Ngân hàng TMCP N) đã đứng ra làm đầu mối nhận tái cấu trúc công ty. Cũng từ đây, Ngân hàng S tham gia quản lý điều hành công ty. Công ty phải thực hiện việc thay đổi người đại diện theo pháp luật từ bà H sang ông Trần Văn Tr và thay đổi đăng ký để Ngân hàng S là chủ sở hữu của 25.000.000 cổ phần của bà H (do trước đây bà Hiền đã bán cho Công ty H và Công ty H đồng ý để Ngân hàng S đứng tên quản lý). Tuy nhiên khi thực hiện việc đăng ký với Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Cần Thơ, Công ty mới phát hiện ra số cổ phần này đã bị thế chấp cho 02 Ngân hàng là Ngân hàng TMCP Đ và Ngân hàng P. Ngày 24/8/2012, Ngân hàng S đã phát hành Thư bảo lãnh số 078.2012/BLTT/SHBHo để bảo lãnh cho các khoản vay của Công ty T tại Ngân hàng P, việc phát hành Thư bảo lãnh này nhằm mục đích để kịp thời phục vụ việc tái cấu trúc doanh nghiệp đang trên bờ vực phá sản.

Ngày 24/8/2012, ba bên: Ngân hàng P, Công ty T và Ngân hàng S chi nhánh Cần Thơ đã ký kết biên bản bàn giao tài sản đã thế chấp trên cơ sở giấy tờ (không bàn giao trên thực địa). Việc bàn giao tài sản chỉ mang tính thủ tục nên Ban điều hành mới của Công ty cùng Ngân hàng S, sau đó mới tiến hành rà soát các tài sản cố định và hàng hóa tồn kho được Ngân hàng P bàn giao. Trong quá trình kiểm tra, Ban điều hành mới của Công ty phát hiện rất nhiều tài sản thiếu hụt, không đủ số lượng trong sổ sách, trong đó có cả nguyên liệu và hàng hóa luân chuyển mà Ngân hàng P đã bàn giao.

Cũng trong quá trình rà soát các tài sản cố định và các dự án được Ban điều hành cũ của Công ty trước đây phê duyệt thì có dự án xây dựng Trung tâm sản xuất cá tra giống tại Lô X khu công nghiệp T, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ nhưng thực tế thì tài sản này không hề có. Ngoài ra còn rất nhiều vấn đề liên quan đến quản lý tiền mặt, mua tài sản nhưng không tồn tại ở công ty.

Tháng 3/2016 Công ty đã gửi đơn tố cáo bà H tới Công an Thành phố Cần Thơ, hiện cơ quan Công an đang tiếp tục xác minh, trong quá trình này đã thực hiện một số cuộc phỏng vấn các cá nhân liên quan và theo thông tin được biết, các cá nhân này đã thừa nhận là nhận khống cá nguyên liệu để vay vốn của các Ngân hàng trong đó có Ngân hàng P.

Công ty T đề nghị Toà án chưa thừa nhận các giao dịch vay mượn giữa Ngân hàng P và Công ty T là hợp pháp do còn nhiều vấn đề liên quan đến sai phạm của cá nhân người quản lý công ty và sai phạm liên quan đến các cán bộ cấp tín dụng.

Tại"phiên"tòa"sơ"thẩm Ngân hàng P giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu Ngân hàng S phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trả nợ theo Thư bảo lãnh đã phát hành.

Bản" án" kinh" doanh" thương" mại" sơ" thẩm" số" 23/2019/KDTM-ST" ngày" 30/10/2019"của"Tòa"án"nhân"dân"quận"Hoàn"Kiếm,"thành"phố"Hà"Nội"đã"xét"xử"và" quyết"định:" “1. Không chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng P (V) đối với bị đơn Ngân hàng TMCP S (S) và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần T (Ha) về việc tranh chấp nghĩa vụ bảo lãnh. 2. Xác định Thư bảo lãnh (về việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay) số 078.2012/BLTT/SHB ngày 24/8/2012 của Ngân hàng TMCP S (S) chưa phát sinh hiệu lực”.

Ngoài ra bản án còn tuyên về phần án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với Bản án, Ngân hàng P có đơn kháng cáo toàn bộ bản án.

Tại"cấp"phúc"thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và cho rẳng Thư bảo lãnh do Ngân hàng S phát hành là không hủy ngang. Ông Trần Văn Tr khi ký kết thỏa thuận tại Biên bản làm việc ngày 26/7/2012 đang là người đại diện theo pháp luật của Công ty T (Theo Quyết định bổ nhiệm số 05/2012/QĐ-HĐQT ngày 01/6/2012 của Công ty T) nên thỏa thuận có hiệu lực. Trường hợp ông Tr ký kết Biên bản thỏa thuận ngày 26/7/2012 vượt quá thẩm quyền của ông nhưng Hội đồng quản trị Công ty T biết mà vẫn triển khai thực hiện theo cam kết đó thì phải được coi là hợp pháp và các bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện. Bản án sơ thẩm căn cứ Điều lệ mới của Công ty T cung cấp là tài liệu chưa được xác thực, có thể bị sửa đổi không thỏa mãn điều kiện khách quan của chứng cứ. Ngân hàng P đã kết thúc việc bàn giao tài sản và hồ sơ tài sản, các bên đã thực hiện thủ tục thay thế bên nhận bảo đảm ký ngày 24/8/2012, mọi quyền của Ngân hàng P đã chuyển sang cho Ngân hàng S, Ngân hàng S đã nhận mà không có bất cứ ý kiến phản hồi nào từ đó đến trước khi Ngân hàng P nộp đơn khởi kiện;

Bị đơn vẫn giữ nguyên quan điểm và cho rằng giao dịch cho vay giữa Ngân hàng P và Công ty T là cơ sở để Ngân hàng S phát hành Thư bảo lãnh có nhiều sai phạm, lập khống các chứng từ để làm mục đích vay vốn với số tiền giải ngân lớn, sai phạm trong việc thẩm định tài sản bảo đảm. Biên bản thỏa thuận là căn cứ để Ngân hàng S phát hành Thư bảo lãnh do ông Tr đại diện của Công ty T ký không đủ thẩm quyền, ông Tr không phải thành viên HĐQT, không phải là người lao động tại Công ty, bản thân Công ty T cũng từ chối tư cách của ông Tr. Ngân hàng P chưa hoàn thành việc bàn giao tài sản tài sản theo Biên bản làm việc ngày 26/7/2012 do tài sản là Trung tâm sản xuất cá tra giống không tồn tại trên thực tế… Vì vậy, Ngân hàng S không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

Công ty T cho rằng tại thời điểm ký kết Biên bản làm việc ngày 26/7/2012 ông Trần Văn Tr không phải là thành viên HĐQT Công ty T, các thành viên HĐQT thời điểm này không họp bàn do Công ty không còn hoạt động. Điều lệ Công ty T được Công ty cung cấp cho Tòa án sơ thẩm là Điều lệ công ty được thông qua ngày 31/12/2010 không phải ngày 31/12/2012 như Nguyên đơn trình bày tại Đơn kháng cáo, Điều lệ này cũng đã được thực hiện chứng thực. Vì ông Tr không phải thành viên HĐQT Công ty mà chỉ là người được bà H ủy quyền vào ngày 16/3/2012 nên ông Tr không đủ thẩm quyền để xác lập thỏa thuận dẫn đến thỏa thuận không phát sinh hiệu lực. Do đó, đề nghị HĐXX không chấp nhận yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của Nguyên đơn.

Đại"diện"Viện"Kiểm"sát"nhân"dân"thành"phố"Hà"Nội"phát"biểu"quan"điểm"và" đề"xuất"hướng"giải"quyết"vụ"án"có"nội"dung"chính:" "

Về"tố"tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn làm trong thời hạn luật định, người kháng cáo đã nộp dự phí kháng cáo, việc kháng cáo đúng thời hạn là kháng cáo hợp lệ. Tòa án sơ thẩm thụ lý, xét xử vụ án khi không xác định được nơi cư trú của bà H và ông Tr thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ là đúng thẩm quyền. Tuy nhiên trong vụ án không có đương sự nào khiếu nại về thời hiệu giải quyết vụ án nhưng Tòa án sơ thẩm vẫn nhận định và xem xét về thời hiệu là vượt quá phạm vi khởi kiện của đương sự.

Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền.Từ khi thụ lý đơn và trong quá trình giải quyết vụ án, thẩm phán được phân công đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án đã chuyển hồ sơ và quyết định xét xử cho Viện kiểm sát đúng thời hạn theo qui định tại Điều 292 BLTTDS. HĐXX phúc thẩm: Tại phiên tòa hôm nay, HĐXX đã thực hiện đúng quy định và yêu cầu chung của phiên tòa phúc thẩm: Thành phần HĐXX phúc thẩm; phạm vi xét xử phúc thẩm. Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn theo qui định tại Điều 51 BLTTDS. Từ khi thụ lý vụ án tại cấp phúc thẩm cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành đúng theo qui định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 72 BLTTDS." "

Về"nội"dung: Không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của Nguyên đơn. Tuy nhiên cấp sơ thẩm cần phải rút kinh nghiệm về việc áp dụng sai nguồn luật áp dụng khi viện dẫn các điều 317 và 319 Luật Thương mại."

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN!

!

Về tố tụng:!Trước khi mở phiên tòa xét xử phúc thẩm, Tòa án Hà Nội nhận được đơn xin hoãn phiên tòa do Công ty Luật TNHH T đề nghị hoãn phiên tòa với lý do hai luật sư Lại Văn D và Nguyễn Lương Th là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn đang tham gia phiên tòa hình sự tại Tiền Giang nên không kịp tham gia phiên tòa hôm nay nhưng không có tài liệu chứng minh. Xét lý do xin hoãn phiên tòa của luật sư không thuộc trường hợp bất khả kháng nên HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo và biên lai nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm của Ngân hàng P (Ngân hàng P) làm và nộp trong thời hạn luật định nên kháng cáo được chấp nhận.

Xét về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Trần Văn Tr và bà Phạm Thị Diệu H là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Toà án cấp sơ thẩm đã tiến hành xác minh và được cơ quan Công an thành phố Cần Thơ cung cấp thông tin bà H xuất cảnh gần nhất vào ngày 08/01/2015 và đến thời điểm xác minh bà H vẫn chưa nhập cảnh về Việt Nam. Cơ quan CSĐT Công an thành phố Cần Thơ đã xác minh nhưng không xác định được quốc gia nơi đến cũng như hiện tại bà H đang ở đâu. Đối với ông Trần Văn Tr hiện tại cơ quan CSĐT Công an thành phố Cần Thơ cũng không có thông tin nơi ở hiện tại của ông Tr. Mặc dù Toà án cấp sơ thẩm đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đầy đủ theo đúng quy định của pháp luật nhưng ông Tr và bà H vẫn không có mặt tại Toà án để làm việc theo Giấy triệu tập của Toà án. Như vậy xác định đây là trường hợp người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi cư trú, cố tình giấu địa chỉ nhằm “trốn"tránh"nghĩa" vụ"đối"với"người"khởi"kiện” theo qui định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự và Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét về nội dung kháng cáo:

Xét"tư"cách"đại"diện"của"ông"Trần"Văn"Tr"khi"tham"gia"ký"kết"tại"Biên"bản" làm" việc ngày 26/7/2012 giữa 3 bên: Ngân hàng P, Ngân hàng TMCP S (Ngân hàng S) và Công ty Cổ phần T (Công ty T) và là căn cứ để Ngân hàng S phát hành thư bảo lãnh,thì thấy rằng: Tại biên bản này có các chủ thể gồm: ông Trần Bá H - PhóTổng giám đốc Ngân hàng P, ông Nguyễn Văn L - Tổng giám đốc Ngân hàng S và ông Trần Văn Tr - Giám đốc Công ty T. Theo văn bản ủy quyền ngày 15/3/2012 thì bà Phạm Thị Diệu H - Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc đã ủy quyền cho ông Trần Văn Tr (chồng bà H) thực hiện những nội dung sau: “Được" quyền"thay"mặt"bà"tham"dự"các"cuộc"họp"của"Hội"đồng"quản"trị"công"ty,"được"phát" biểu,"biểu"quyết"các"vấn"đề"tại"các"cuộc"họp"với"cổ"phần"mà"bà"đang"sở"hữu,"được"xử" lý"các"vấn"đề"liên"quan"đến"điều"hành"công"ty,"được"ủy"quyền"các"hợp"đồng"vay"vốn," giấy"nhận" nợ," check"rút"tiền" mặt," ủy"nhiệm" chi" và" các" vấn"đề"liên"quan" đến" Ngân" hàng”.

Đối chiếu với quy định tại khoản 3 Điều 111 Luật Doanh nghiệp năm 2005 (khoản 4 Điều 152 Luật Doanh nghiệp 2014) về Chủ tịch Hội đồng quản trị thì “Trường"hợp"Chủ"tịch"HĐQT"vắng"mặt"hoặc"không"thể"thực"hiện"được"nhiệm"vụ" của"mình"thì"uỷ"quyền"bằng"văn"bản"cho"một"thành"viên"khác"thực"hiện"các"quyền" và" nghĩa" vụ" của" Chủ" tịch" HĐQT" theo" nguyên" tắc" qui" định" tại" Điều" lệ" công" ty." Trường" hợp" không" có" người" được" uỷ" quyền" thì" các" thành" viên" còn" lại" bầu" một" người"trong"số"các"thành"viên"tạm"thời"giữ"chức"Chủ"tịch"HĐQT"theo"nguyên"tắc" đa"số”.

Theo Điều 26 Phần 2 Điều lệ của Công ty T quy định đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐQT thì:“Trường"hợp"Chủ"tịch"và"Phó"Chủ"tịch"tạm"thời""không"thể" thực"hiện"nhiệm"vụ"của"họ"vì"lý"do"nào"đó,"Hội"đồng"quản"trị"có"thể"bổ"nhiệm"một" người"khác"trong"số"họ"để"thực"hiện"nhiệm"vụ"của"Chủ"tịch"theo"nguyên"tắc"đa"số" quá"bán”.

Tại Biên bản ghi lời khai ngày 17/5/2016 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Cần Thơ, ông Tr khai"“Từ"khi"thành"lập"đến"tháng"8/2012,"Công"ty" Cổ"phần"T"do"vợ"tôi"là"bà"Phạm"Thị"Diệu"H"làm"Tổng"Giám"đốc"và"điều"hành"mọi" hoạt"động"của"Công"ty,"ông"không"tham"gia"vào"hoạt"động"quản"lý,"kinh"doanh"của" Công"ty"nên"không"biết"Hội"đồng"quản"trị"gồm"có"những"ai…"Đến"tháng"8/2012,"do" Công"ty"đang"gặp"khó"khăn,"Công"ty"vỡ"nợ,"vợ"tôi"lại"bị"bệnh"nên"tôi"thay"vợ"tôi" vào"điều"hành"hoạt"động"của"công"ty"để"công"ty"tiếp"tục"hoạt"động."Khi"tôi"(Tr)"vào" quản"lý"công"ty"thì"không"có"họp"Hội"đồng"quản"trị"vì"lúc"đó"tôi"(Tr)"cũng"không" biết"Hội"đồng"quản"trị"gồm"có"những"ai,"khi"đó"tôi"(Tr)"cùng"với"Ngân"hàng"S"đi" đăng"ký"thay"đổi"giấy"phép"đăng"ký"kinh"doanh."Theo"Giấy"phép"đăng"ký"thay"đổi" lần"thứ"năm"ngày"24/8/2012"thì"tôi"(Tr)"sở"hữu"2%"giá"trị"cổ"phần,"Ngân"hàng"S"sở" hữu"50%"cổ"phần”.""

Như vậy, việc bà H ủy quyền cho ông Tr điều hành Công ty khi ông Tr không phải là thành viên HĐQT là trái với qui định của Luật Doanh nghiệp cũng như Điều lệ Công ty.

Tại cấp sơ thẩm, Nguyên đơn xuất trình Quyết định số 05/2012/QĐ-HĐQT ngày 01/6/2012 của Công ty T nội dung thể hiện việc HĐQT Công ty bổ nhiệm ông Trần Văn Tr chức danh Tổng giám đốc Công ty T kể từ ngày 06/6/2012 - Quyết định do đại diện HĐQT Công ty tên Phan Lê S bổ nhiệm (Bút lục số 955, tài liệu không được chứng thực hoặc thẩm phán đối chiếu bản gốc). Tại phiên tòa phúc thẩm, Nguyên đơn xác định tài liệu này cho Nguyên đơn xuất trình chỉ có bản photo, không có bản gốc để đối chiếu lý do đây là tài liệu của ông Tr giữ và chỉ xuất trình khi ký kết Biên bản thỏa thuận 3 bên ngày 26/7/2012. Ông Tr nói sẽ giao cho Nguyên đơn bản gốc nhưng sau đó không giao lại. Quyết định này không phù hợp với Quyết định bổ nhiệm chức danh Tổng giám đốc của ông Tr cũng do HĐQT Công ty T ban hành được lưu tại Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Cần Thơ về thời gian bổ nhiệm và người ký quyết định bổ nhiệm.

Theo kết quả cung cấp của Sở kế hoạch Đầu tư thành phố Cần Thơ cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thì ngày 23/4/2012 ông Trần Văn Tr được bà Phạm Thị Diệu H chủ tịch HĐQT Công ty T bổ nhiệm chức danh Tổng giám đốc Công ty. Tuy nhiên, theo Quyết định số 442/QĐ-SNV ngày 02/7/2012 Sở Nội vụ Cần Thơ mới quyết định giải quyết nghỉ việc đối với viên chức ông Trần Văn Tr theo đơn xin chuyển công tác hoặc nghỉ việc ngày 27/6/2012 của ông Trần Văn Tr và đề nghị của Hiệu trưởng trường trung cấp nghề Khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long.

Như vậy, tại thời điểm được bổ nhiệm làm Tổng giám đốc Công ty T, ông Tr vẫn đang là viên chức của trường trung cấp Nghề.

Theo quy định tại Điều 37 khoản 1 điểm b của Luật phòng chống tham nhũng năm 2005 quy định “Cán"bộ,"công"chức,"viên"chức"không"được"làm"những" việc" sau" đây:" Thành" lập," tham" gia" thành" lập" hoặc" tham" gia" quản" lý," điều" hành" doanh"nghiệp"tư"nhân,"công"ty"trách"nhiệm"hữu"hạn,"công"ty"cổ"phần,"công"ty"hợp" danh,"hợp"tác"xã,"bệnh"viện"tư,"trường"học"tư"và"tổ"chức"nghiên"cứu"khoa"học"tư," trừ"trường"hợp"pháp"luật"có"quy"định"khác”;""

Đối chiếu với quy định nêu trên thì ông Tr không được phép tham gia quản lý, điều hành Công ty khi đang là viên chức Nhà nước, do vậy ông Tr không được coi là đại diện hợp pháp của Công ty T. Cũng vì vậy, Biên bản làm việc ngày 26/7/2012 khi ông Tr đại diện cho Công ty T ký kết cũng không được coi là hợp pháp. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thay đổi lần thứ 5 ngày 24/8/2012 của Công ty T thì người đại diện theo pháp luật của Công ty là ông Trần Văn Tr - Chức vụ: Tổng giám đốc Công ty do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Cần Thơ cấp cho Công ty T trên cơ sở quyết định bổ nhiệm số 01/QĐ-HC ngày 23/4/2012 là không phù hợp với quy định của pháp luật.

Thư Bảo lãnh phát hành ngày 24/8/2012 thể hiện:

"“-"Phạm vi bảo lãnh:"Ngân"hàng"S"cam"kết"bảo"lãnh"không"hủy"ngang"cho" nghĩa"vụ"trả"nợ"vay"của"Bên"được"bảo"lãnh"đối"với"Bên"nhận"bảo"lãnh"theo"các" Hợp" đồng" tín" dụng"đầu" tư,"Hợp" đồng" tín" dụng" xuất" khẩu" đã" ký"giữa" Chi"nhánh" Ngân"hàng"P"khu"vực"Cần"Thơ"-"Hậu"Giang"với"Công"ty"Cổ"phần"T.

-"Giá trị bảo lãnh:"Giá"trị"bảo"lãnh"bao"gồm"toàn"bộ"nợ"gốc,"nợ"lãi"còn"lại," lãi"phát"sinh"và"các"nghĩa"vụ"tài"chính"khác"theo"các"Hợp"đồng"tín"dụng"đã"ký"giữa" Công"ty"CP"T"với"Chi"nhánh"Ngân"hàng"P"khu"vực"Cần"Thơ"-"Hậu"Giang"cho"đến" khi"hoàn"tất"nghĩa"vụ"trả"nợ"thay"cho"Công"ty"CP"T."

Tổng"số"nợ"gốc,"nợ"lãi"tính"đến"20/8/2012"là:"421.772.280.530"đồng"(Chưa" bao"gồm"lãi"phát"sinh"cho"đến"khi"hoàn"tất"nghĩa"vụ"trả"nợ"thay)."

-"Điều"kiện"có"hiệu"lực"của"Thư"bảo"lãnh:"Thư"bảo"lãnh"này"có"hiệu"lực"kể"từ" khi"Bên"nhận"bảo"lãnh"phát"hành"thông"báo"giải"chấp"toàn"bộ"tài"sản,"hồ"sơ"tài"sản" và"các"hình"thức"đảm"bảo"cho"Bên"được"bảo"lãnh"theo"các"nội"dung"cam"kết"tại" Biên"bản" làm"việc"đã" được"ký"kết"giữa"03"bên" (Công" ty" Cổ"phần" T," Ngân"hàng" Thương"mại"Cổ"phần"S"và"Ngân"hàng"P)"ngày"26"tháng"7"năm"2012."

-"Thời"hạn"bảo"lãnh:"Kể"từ"thời"điểm"Thư"bảo"lãnh"có"hiệu"lực"đến"khi"Bên" được"bảo"lãnh"hoặc"Bên"bảo"lãnh"hoàn"thành"nghĩa"vụ"trả"nợ"vay"cho"Bên"nhận" bảo"lãnh"theo"Các"Hợp"Đồng"Tín"Dụng."

Trong"thời"hạn"bảo"lãnh"nêu"trên,"nếu"Công"ty"Cổ"phần"T"tổ"chức"lại"doanh" nghiệp"thì"Thư"bảo"lãnh"này"vẫn"có"hiệu"lực."

-"Thực"hiện"nghĩa"vụ"bảo"lãnh:"

Giai" đoạn" 1:" Sau" 24" tháng" kể" từ" ngày" Thư" bảo" lãnh" có" hiệu" lực" nếu" Bên" được"bảo"lãnh"chưa"thanh"toán"được"50%"nghĩa"vụ"trả"nợ"đối"với"Bên"nhận"bảo" lãnh"và"Bên"nhận"bảo"lãnh"có"văn"bản"yêu"cầu,"Ngân"hàng"chúng"tôi"sẽ"thực"hiện" nghĩa"vụ"trả"nợ"thay"cho"Bên"được"bảo"lãnh"đảm"bảo"tổng"số"tiền"Bên"được"bảo" lãnh"đã"trả"(nếu"có)"và"số"tiền"Ngân"hàng"chúng"tôi"trả"nợ"thay"bằng"50%"giá"trị" bảo"lãnh"ngay"khi"có"văn"bản"yêu"cầu"của"Bên"nhận"bảo"lãnh."

Giai" đoạn" 2:" Sau" 36" tháng" kể" từ" ngày" Thư" bảo" lãnh" có" hiệu" lực" nếu" Bên" được"bảo"lãnh"không"thực"hiện"hoặc"thực"hiện"không"đầy"dủ"nghĩa"vụ"trả"nợ"đối" với"Bên"nhận"bảo"lãnh,"Ngân"hàng"chúng"tôi"sẽ"thực"hiện"nghĩa"vụ"trả"nợ"thay"cho" Bên"được"bảo"lãnh"50%"giá"trị"bảo"lãnh"còn"lại"(tính"đến"thời"điểm"thực"hiện"nghĩa" vụ"bảo"lãnh)"ngay"khi"có"văn"bản"yêu"cầu"của"Bên"nhận"bảo"lãnh.”

Như vậy để Thư Bảo lãnh phát sinh hiệu lực thì phải có điều kiện đó là khi Bên nhận bảo lãnh phát hành thông báo giải chấp toàn bộ tài sản, hồ sơ tài sản và các hình thức đảm bảo cho Bên được bảo lãnh theo các nội dung cam kết tại Biên bản làm việc đã được ký kết giữa 03 bên ngày 26/7/2012. Biên bản làm việc thì trách nhiệm của Bên nhận bảo lãnh (Ngân hàng P) là giải chấp toàn bộ tài sản bảo đảm tiền vay cho Bên được bảo lãnh (Công ty T) và ký biên bản bàn giao Giấy chứng nhận sở hữu cổ phần cùng toàn bộ tài sản và hồ sơ pháp lý của các tài sản bảo đảm cho Bên bảo lãnh (Ngân hàng S) khi Thư bảo lãnh có hiệu lực. Công ty T có trách nhiệm ngay sau khi Ngân hàng P giải chấp toàn bộ tài sản đảm bảo của Công ty thì Công ty thực hiện ngay thủ tục công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm thế chấp toàn bộ tài sản đảm bảo này cho S để đảm bảo cho khoản bảo lãnh của S.

Tuy nhiên theo Hợp đồng thay thế bên nhận tài sản bảo đảm giữa 3 bên (kèm theo danh mục tài sản thế chấp của Công ty T tại Ngân hàng P) thì tài sản bàn giao gồm có: 25 triệu cổ phiếu đứng tên bà Phạm Thị Diệu H; Nhà máy chế biến thuỷ sản đông lạnh và Nhà máy chế biến phụ phẩm cá tra xuất khẩu (cả 2 nhà máy đều chỉ là phần xây dựng); Tài sản hình thành trong tương lai là Trung tâm sản xuất cá tra giống và tài sản hình thành từ vốn vay được thể hiện dưới dạng nguyên liệu thành phẩm, hàng hoá xuất khẩu đang đi trên đường theo hợp đồng xuất khẩu hoặc L/C. Những tài sản bảo đảm của Công ty Thủy sản trong hợp đồng này phù hợp với những tài sản đã bàn giao cho S mà nguyên đơn nêu trong đơn khởi kiện. Trị giá của những tài sản này là 226.633.982.244! đồng,! chưa kể các tài sản hình thành trong tương lai. Mà các tài sản hình thành trong tương lai trên thực tế phải phụ thuộc vào số vốn vay được thể hiện dưới dạng nguyên liệu, thành phẩm, hàng hoá xuất khẩu, đang đi trên đường theo hợp đồng xuất khẩu hoặc L/C. Trong hồ sơ cũng như lời trình bày của các bên không hề có một hợp đồng xuất khẩu hoặc L/C nào. Trị giá tài sản đảm bảo trên đảm bảo cho khoản vay của Hợp đồng tín dụng xuất khẩu và Hợp đồng tín dụng đầu tư có số tiền gốc là 310.110.619.629!đồng! (chưa kể lãi). Số tiền cho vay lớn hơn cả tài sản đảm bảo cho khoản vay và trong quá trình cho vay ngân hàng cũng không giám sát việc sử dụng vốn vay và việc trả nợ của khách hàng như thế nào. Điều đó thể hiện việc Ngân hàng P cho Công ty T vay vốn không đúng qui định của pháp luật, cụ thể thời điểm đó là Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Cụ thể:

Điều!7. Điều kiện vay vốn. “Tổ"chức"tín"dụng"xem"xét"và"quyết"định"cho"vay" khi"khách"hàng"có"đủ"các"điều"kiện"sau:""

2."Mục"đích"sử"dụng"vốn"vay"hợp"pháp."

3."Có"khả"năng"tài"chính"đảm"bảo"trả"nợ"trong"thời"hạn"cam"kết."

4."Có"dự"án"đầu"tư,"phương"án"sản"xuất,"kinh"doanh,"dịch"vụ"khả"thi"và"có" hiệu"quả;"hoặc"có"dự"án"đầu"tư,"phương"án"phục"vụ"đời"sống"khả"thi"và"phù"hợp" với"quy"định"của"pháp"luật”, và

Điều!15:! Thẩm định và quyết định cho vay: “2-"Tổ"chức"tín"dụng"xem"xét," đánh"giá"tính"khả"thi,"hiệu"quả"của"dự"án"đầu"tư,"phương"án"sản"xuất,"kinh"doanh," dịch"vụ"hoặc"dự"án"đầu"tư,"phương"án"phục"vụ"đời"sống"và"khả"năng"hoàn"trả"nợ" vay"của"khách"hàng"để"quyết"định"cho"vay”.

Hơn nữa theo tài liệu của Công an Thành phố Cần Thơ tại văn bản số 51/CSĐT-KT ngày 25/01/2018 gửi Tòa án đã thể hiện nội dung: Cơ quan điều tra đã thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh sai phạm trong hồ sơ vay vốn có liên quan đến việc xác định tính pháp lý của chứng thư bảo lãnh cụ thể như sau:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Cần Thơ đã tiến hành xác minh tin báo tội phạm về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” có liên quan đến các khoản vay của Công ty Cổ phần T (trước đây là Công ty Cổ phần T) tại các tổ chức tín dụng và kiến nghị khởi tố số 73 ngày 14/4/2016 của Thủ trưởng cơ quan CSĐT Công an TP Cần Thơ.

Căn"cứ"vào"kết"quả"xác"minh"tại"Cơ"quan"quản"lý"việc"xuất"nhập"cảnh"xác" định:"bà"Phạm"Thị"Diệu"H"đã"xuất"cảnh"49"lần,"lần"xuất"cảnh"gần"nhất"vào"ngày" 08/01/2015,"bà"Phạm"Thị"Diệu"H"chưa"nhập"cảnh"về"Việt"Nam."

-"Xác"minh"các"hồ"sơ,"tài"liệu"làm"căn"cứ"giải"ngân"đối"với"09"khế"ước"nhận" nợ" vay" theo" Hợp" đồng" tín" dụng" xuất" khẩu" số" 18/2010/TDXKHM-NHPT" ngày" 08/3/2010" và" 13" hợp" đồng" tín" dụng" xuất"khẩu" cho" vay" từng" lần:" toàn" bộ" những" người"ký"hợp"đồng"bán"cá"làm"căn"cứ"giải"ngân"mà"Cơ"quan"CSĐT"làm"việc"được" đều"khai"nhận"không"bán"cá,"không"nuôi"cá,"không"có"cá"để"bán"cho"Công"ty"Thủy" sản,"ký"hợp"đồng"không"theo"chỉ"đạo"của"bà"Phạm"Thị"Diệu"H"để"Công"ty"Thủy"sản" vay"vốn"Ngân"hàng"V"và"Ngân"hàng"B."Một"số"ít"người"ký"hợp"đồng"bán"cá"không" còn"sinh"sống"tại"địa"phương"nên"chưa"làm"việc"được."

-" Một"số"tài"sản"thế"chấp/cầm"cố"đảm"bảo" cho" các"khoản"vay,"không"tiến" hành"kiểm"tra,"xác"minh"như:"25"triệu"cổ"phiếu"thuộc"quyền"sở"hữu"của"bà"Phạm" Thị"Diệu"H,"cấp"ngày"30/7/2008"mã"cổ"đông"BA00001:"Ngân"hàng"V"và"Ngân"hàng" B"sở"giao"dịch"2"không"thẩm"tra"xác"minh"kỹ,"không"có"biện"pháp"quản"lý,"phong" tỏa,"dẫn"đến"bà"Hiền"cầm"cố"cho"02"tổ"chức"tín"dụng"và"bán"cho"01"doanh"nghiệp," cụ"thể:"

+Cầm"cố"cho"Ngân"hàng"B"sở"giao"dịch"2:"25"triệu"cổ"phếu"theo"hợp"đồng" cầm"cố"bằng"tài"sản"của"bên"thứ"ba"số"566a/2010/HĐ"ngày"04/8/2010;"

+Cầm" cố" cho" Ngân" hàng" V" chi" nhánh" khu" vực" Cần" Thơ-" Hậu" Giang:" 25" triệu"cổ"phiếu"theo"hợp"đồng"cầm"cố"tài"sản"của"bên"thứ"ba"số"01/HĐCC-NHPTVN" ngày"11/01/2011."

+Bán"cho"Công"ty"CP"Đầu"tư""-"Tư"vấn"dịch"vụ"H:"25"triệu"cổ"phiếu"theo" hợp" đồng" mua" bán" kỳ" hạn" chứng" khoán" chưa" niêm" yết" số" 51/2011/HBB-PTDH" ngày"13/7/2011."

Ngoài"ra,"còn"có"dấu"hiệu"cầm"cố"một"phần"số"cổ"phiếu"trên"cho"02"tổ"chức" tín"dụng"là"Ngân"hàng"A"chi"nhánh"Cần"Thơ,"Ngân"hàng"E"chi"nhánh"Sài"Gòn."

-Thế"chấp"01"lượng"hàng"hóa"hình"thành"trong"tương"lai"có"dấu"hiệu"cùng" một"lúc"cho"02"tổ"chức"tín"dụng"khác"nhau:"Thế"chấp"cho"Ngân"hàng"V"và"Ngân" hàng"A"chi"nhánh"Cần"Thơ"các"tài"sản"hình"thành"từ"vốn"vay"được"thể"hiện"dưới" dạng"nguyên"liệu,"thành"phẩm,"hàng"hóa"xuất"khẩu"có"dấu"hiệu"trùng"lắp."

Cơ"quan"CSĐT"Công"an"TP"Cần"Thơ"chưa"ra"Quyết"định"khởi"tố"hoặc"Quyết" định"không"khởi"tố"vụ"án"hình"sự,"do"Tòa"án"nhân"dân"quận"Hoàn"Kiếm"đang"thụ"lý" Đơn"khởi"kiện"theo"trình"tự,"thủ"tục"tố"tụng"dân"sự"để"xác"định"tính"pháp"lý"của" chứng"thư"bảo"lãnh"của"Ngân"hàng"S"đối"với"Ngân"hàng"B,"Ngân"hàng"V…"

Qua nội dung công văn của Cơ quan CSĐT Công an Thành phố Cần Thơ đã xác định được một số sai phạm trong hồ sơ vay vốn tại Ngân hàng V của Công ty Cổ phần T.

Như vậy việc cho vay của Ngân hàng P đối với khách hàng cụ thể là Công ty T không đúng qui định của pháp luật nên cam kết của các bên tại biên bản làm việc ngày 26/7/2012 không đúng với bản chất vụ việc, biên bản vi phạm cả về hình thức và nội dung. Vì vậy,Thư bảo lãnh ngày 24/8/2012 của Ngân hàng S chưa phát sinh hiệu lực do không đúng qui định tại Điều 8 của Qui chế bảo lãnh ngân hàng"(Ban" hành"kèm"theo"Quyết"định"số"26/2006/QĐ-NHNN"ngày"26/6/2006"của"Thống"đốc" Ngân"hàng"Nhà"nước)

Điều!8. Điều kiện bảo lãnh: “ Tổ"chức"tín"dụng"xem"xét"và"quyết"định"bảo" lãnh"khi"khách"hàng"có"đủ"các"điều"kiện"sau: 2."Mục"đích"đề"nghị"tổ"chức"tín"dụng" bảo"lãnh"là"hợp"pháp ”.

Vi phạm khoản 2 Điều 10 Thông tư số 07/2015/TT-NHNN ngày 25/6/2015 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về Điều kiện đối với khách hàng: “2. Nghĩa"vụ"được"bảo"lãnh"là"nghĩa"vụ"tài"chính"hợp"pháp”."

Việc Ngân hàng S từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với yêu cầu của Ngân hàng P là phù hợp với quy định tại khoản 6 Điều 25 Thông tư số 28/2012/TT-NHNN ngày 03/10/2012 và khoản 7 Điều 27 Thông tư số 07/2015/TT-NHNN ngày 25/6/2015 qui định về Bảo lãnh ngân hàng. Cả 2 Thông tư này đều qui định giống nhau về Quyền của bên bảo lãnh: “ Từ"chối"thực"hiện"nghĩa"vụ"bảo"lãnh"khi"hồ"sơ" yêu"cầu"thanh"toán"bảo"lãnh"không"đáp"ứng"đủ"các"điều"kiện"qui"định"trong"cam" kết"bảo"lãnh”.

Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn là có căn cứ nên kháng cáo của Nguyên đơn cũng không có cơ sở để chấp nhận. Do kháng cáo không được chấp nhận nên Nguyên đơn phải chịu tiền án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Từ những nhận định trên:

Áp dụng Khoản 1 Điều 308 - Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT!ĐỊNH!

Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 23/2019/KDTM-ST ngày 30/10/2019 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Xử:! 1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc buộc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của Ngân hàng P (V) đối với Ngân hàng TMCP S (S). 2. Xác định Thư bảo lãnh (về việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay) số 078.2012/BLTT/SHBHo ngày 24/8/2012 của Ngân hàng TMCP S (S) chưa phát sinh hiệu lực. 3. Về án phí: Ngân hàng P phải chịu 1.323.659.253đ tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và 2.000.000đ tiền án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm, Ngân hàng đã nộp 468.722.000đ tiền tạm ứng án phí theo các biên lai số 01869 ngày 03/4/2017 và biên lai số 0003357 ngày 15/11/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm, nay còn phải nộp tiếp 854.937.253đ.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ