vanban.org

Bản án 45/2020/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Gia Lai Tuyên án 25/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc Nh - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
___________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2020/HSST
Ngày: 25-8-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Bình

Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng

Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Chương;

Ông Nguyễn Tấn Đức;

Ông Nguyễn Đình Tùng

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Trà My – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai .

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Dũng- Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 25/8/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 49/2020/TLST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2020/QĐXXST-HS ngày 07/8/2020 đối với bị cáo sau:

Nguyễn Quốc Nh. Sinh ngày: 24/8/1996, tại Gia Lai. Nơi đăng ký HKTT và Chỗ ở: tổ 5, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức Ch và bà Hồ Thị G; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 26/6/2013 bị Công an thị xã A, tỉnh Gia Lai ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi đánh nhau gây thương tích (đã nộp phạt ngày 05/9/2013). Bị cáo đầu thú ngày 24/3/2020 và bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay; có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Huỳnh Văn Kiên là Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh Gia Lai. Có mặt

* Người bị hại:

- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1967. Có mặt

Trú tại: tổ 5, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Đức Ch, sinh năm 1963, Có mặt

- Bà Hồ Thị G, sinh năm 1971, vắng mặt

Cùng trú tại: tổ 5, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai.

- Bà Phạm Thị Thu H, sinh năm 1972

Trú tại: tổ 5, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai, Có mặt

* Người làm chứng:

- Bà Phạm Thị M, sinh năm 1963

Trú tại: 07 Lê lai, tổ 7, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai, Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ ngày 21/3/2020, Nguyễn Quốc Nh cùng Nguyễn Đức  và Đào Minh Th và một người bạn khác của Â, có tổ chức uống bia tại nhà của anh  thuộc tổ 5, phường A, thị xã A, Gia Lai. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày thì ông Nguyễn Văn S, trú cùng Tổ 5 đi đám cười về ngang qua nhà Â, thấy có uống bia nên ông S vào cùng tham gia. Khi thấy gần hết bia ông S lấy điện thoại di động của mình bấm số gọi cho chị Tạ Thị H là chủ quán tạp hóa, sau khi bấm số gọi thì ông S đưa điện thoại cho Nh nói chuyện nhưng Nh không nói, sau đó ông S nói với bà H chở 01 thùng bia SaiGon (loại bia chai) vào nhà Â, khoảng 05 phút sau chưa thấy bà H chở bia đến thì Nh điều khiển xe môtô đến nhà bà H nói bà H chở bia đến nhà  rồi Nh đi về trước.

Khi bà H chở bia đến nhà Â thì hỏi: “Thùng bia này ai trả tiền?”, Th nói: “Ai gọi người đó trả tiền”, ông S nói: “Tao điện thoại dùm chứ sao bảo tao trả” thì Â nói: “Để mai cháu đưa cho”, nghe vậy thì bà H đi về. Sau đó ông S ngồi uống bia cùng Nh, Â và Th khoảng 15 phút thì đi về trước.

Đến khoảng 19 giờ 40 phút ngày 24/3/2020, Nguyễn Quốc Nh sau khi đi uống bia về đến trước nhà của Nh (đối diện nhà ông S) thì Nh nhìn thấy ông S đang nằm nghiêng người nói chuyện với bà Phạm Thị M (Sinh năm 1963, trú tổ 3, phường Ch, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai - là chị vợ của ông S) ở chiếc chiếu trải ở nền nhà trong nhà ông S. Nh nhớ lại trong lúc uống bia vào ngày 21/3/2020 tại nhà Â, thì ông S coi thường, nói mình là “con nít” và cho rằng ông S gọi điện thoại mua bia nhưng không chịu trả tiền nên đã nảy sinh ý định đánh ông S để trả thù. Nh đi vào nhà lấy 01 con dao Thái Lan ở bếp giấu vào túi bên trong áo khoác rồi đi một mình qua nhà ông S để đâm ông S.

Khi Nh vào nhà thì ông S đang nằm nghiêng người qua bên phải, tay phải chống đầu, mặt hướng ra cửa trước. Nh đi đến đứng trước mặt ông S và hỏi: “Thùng bia hôm trước nhậu tính sao” ông S trả lời: “Tụi bay nhậu thì tính đi chứ”, Nh nói: “Chú gọi sao bắt tui tính tiền”, vừa nói xong thì Nh lấy con dao trong túi áo khoác ra cầm ở tay phải đâm ông S 02 nhát, vừa đâm Nh vừa nói: “Thùng bia nè, thùng bia nè”. Khi Nh đâm nhát thứ nhất thì ông S nhỏm người dậy thì bị Nh đâm trúng vào dưới mông bên trái của ông S; Khi ông S nhổm người đứng lên định bỏ chạy và giơ tay đ thì bị Nh tiếp tục đâm nhát thứ hai trúng vào thái dương trái của ông S làm lư i dao dính vào đầu ông S. Nh rút con dao ra nhưng không được thì Nh bỏ đi về nhà. Ông S đã được đi cấp cứu tại Trung tâm y tế thị xã A rồi chuyển điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định đến ngày 26/3/2020 thì xuất viện. Sau khi gây án Nguyễn Quốc Nh đến Công an phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai đầu thú, khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 52/20/TgT, ngày 10/4/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Gia Lai, kết luận giám định:

- Một vết thương phần mềm ở vùng thái dương trái kích thước 1,5cm, chưa cắt chỉ: 1%

- Một vết thương phần mềm mặt sau dưới mông trái kích thước 2cm, chưa cắt chỉ: 1%

Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 2%.

Tại cáo trạng số 62/CT-VKS-P2 ngày 09/7/2020, VKSND tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc Nh về tội: “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm.

2. Diễn biến phiên tòa:

- Bị cáo Nguyễn Quốc Nh thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, vì bực tức bị cáo chỉ muốn đánh ông S để trả thù, bị cáo không cố ý tước đoạt mạng sống của ông S. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho gia đình ông S. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Gia Lai giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Giết người”

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 BLHS năm 2015, xử phạt bị cáo mức án từ 07 năm đến 08 năm tù.

Về dân sự: Bị hại đã nhận số tiền 24.000.000 đồng từ gia đình bị cáo và không yêu cầu bồi thường gì khác, nên đề nghị không xem xét phần dân sự.

Vật chứng của vụ án là 01 con dao Thái Lan, 01 áo khoác vải màu đen, 01 ống nghiệm bằng nhựa không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

Về án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

- Người bào chữa cho bị cáo đồng ý với tội danh, điểm, khoản, Điều luật như lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, tuy nhiên hậu quả chết người chưa xảy ra nên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án thấp nhất do đại diện Viện kiểm sát đưa ra.

- Người bị hại ông Nguyễn Văn S đồng ý nội dung truy tố, luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đã nhận đủ tiền bồi thường từ gia đình bị cáo và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hoạt động của các cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng hiện hành; các tài liệu, chứng cứ thu thập được có tại hồ sơ vụ án là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: ngày 24/3/2020 sau khi đi uống rượu về ngang nhà ông S, thấy ông S đang ở trong nhà nói chuyện với bà Mai, Nh nhớ đến chuyện mâu thuẫn vào ngày 21/3/2020 cho rằng ông S coi thường và không chịu trả tiền mua bia nên Nh nảy sinh ý định đánh ông S để trả thù, Nh về nhà lấy con dao đâm liên tiếp 02 nhát vào vùng mông trái và vùng đầu của ông S. Hậu quả làm ông S bị thương, tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 2%, do được đưa đi cấp cứu kịp thời nên ông S không chết, nhưng việc dùng hung khí nguy hiểm đâm vào những vùng trọng yếu trên cơ thể người khác có khả năng gây chết người. Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo tội “Giết người” với tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS năm 2015 là đúng người, đúng tội.

[3] Về tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống mà bị cáo lấy dao đâm vào những vùng trọng yếu trên cơ thể người khác, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, tác động xấu đến trật tự, an toàn chung tại địa phương.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng;

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn và thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt: Việc ông S không chết là nằm ngoài ý chí của bị cáo, hành vi dùng dao sắc nhọn đâm vào vùng trọng yếu của cơ thể ông S, có vết thương vùng đầu hậu quả ông S tổn hại sức khỏe là 2% cho thấy trong vụ án này bị cáo thực hiện chưa đạt về hậu quả, nhưng đã hoàn thành về hành vi. Do đó cần áp dụng cho bị cáo Điều 15, khoản 3 Điều 57 khi tuyên phạt đối với bị cáo. Tuy nhiên với diễn biến, nguyên nhân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, xét các tình tiết giảm nhẹ và thái độ ăn năn hối cải của bị cáo như trên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử bị cáo hình phạt tù với mức án dưới khung hình phạt là tương xứng với hành vi bị cáo, đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà bị hại khai đã nhận 24.000.000 đồng của gia đình bị hại bồi thường về sức khoẻ và ngày công lao động và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về vật chứng: Đối với 01 con dao Thái Lan, 01 áo khoác vải màu đen, 01 ống nghiệm bằng nhựa không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc Nh phạm tội “Giết người”

2. Về hình phạt:

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 15, khoản 3 Điều 57, điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 BLHS năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc Nh 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 24/03/2020.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

4. Về vật chứng:

Căn cứ Điều 106 BLTTHS năm 2015,

Tịch thu tiêu huỷ: 01 con dao Thái Lan, 01 áo khoác vải màu đen, 01 ống nghiệm bằng nhựa.

Các vật trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng số 49/2020 ngày 14/7/2020, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai và Cục thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai

5. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12 /2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo:

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

7. Về thi hành án dân sự:

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ