- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đăng Đ và đồng phạm phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| tßa ¸n nh©n d©n HuyÖn Quúnh L¦U- nghÖ an | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2020/HSST Ngày 27-4-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƢU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Đóa.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hồ Thị Thúy Hằng
2. Ông Trần Văn Cương
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Hoàng Phương, Thư ký Toà án nhân dân Huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện VKSND huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Kiều - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2020, tại Hội trường Toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 27/2020/TLST-HS, ngày 05 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2020/QĐXXST-HS, ngày 10 tháng 4 năm 2020, đối với các bị cáo:
1/ Lê Đăng Đ, sinh năm 1984 tại huyện QL, tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Khối 11, thị trấn C, huyện QL, tØnh Nghệ An; trình độ học vấn: Lớp 11/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Đăng T (đã chết) và con bà: Hồ Thị Ch, sinh năm 1957; anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; vợ: Trần Thị Th, sinh năm 1988; con: Có 01 người sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 22/8/2002, bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 15 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Hiện đã được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/12/2019 đến ngày 11/12/2019 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
2/ Lê Văn T, sinh năm 1983 tại huyện QL, tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Xóm 10, xã QL, huyện QL, tØnh Nghệ An; trình độ học vấn: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Q (đã chết) và con bà: Phạm Thị L, sinh năm 1961; anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; vợ: Nguyễn Thị Th, sinh năm 1988; con: Có 02 người, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/12/2019 đến ngày 11/12/2019 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
3/ Lê Văn Đ, sinh năm 1980 tại huyện QL, tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Khối 10, thị trấn C, huyện QL, tØnh Nghệ An; trình độ học vấn: Lớp 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn Ch (đã chết) và con bà: Lương Thị L (đã chết); anh chị em ruột: Có 06 người, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; vợ: Lương Thị H, sinh năm 1981; con: Có 04 người, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/12/2019 đến ngày 11/12/2019 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phan Công S, sinh năm 1973. Vắng mặt.
Địa chỉ: Khối 9, thị trấn C, huyện QL, tỉnh Nghệ An.
- Người làm chứng:
- Anh Lương Thế T, sinh năm 1984. Vắng mặt.
Địa chỉ: Khối 10, thị trấn C, huyện QL, tỉnh Nghệ An.
- Anh Lê Đăng Th, sinh năm 1976. Vắng mặt.
Địa chỉ: Khối 10, thị trấn C, huyện QL, tỉnh Nghệ An.
- Anh Hồ Sỹ T, sinh năm 1983. Vắng mặt.
Địa chỉ: Khối 11, thị trấn C, huyện QL, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian tháng 11 năm 2019, Phan Công S có trao đổi với Hồ Sỹ T về việc nhờ đặt một chiếc máy trò chơi điện tử “Thỏ, Khỉ” mới mục đích thu tiền dịch vụ. Sau khi được T đồng ý, Sơn mang máy điện tử đến nhà anh T để và có thuê Lê Đăng Đ quản lý máy và thu tiền dịch vụ. Trong quá trình quản lý máy, Lê Đăng Đ đã sử dụng trò chơi điện tử trên máy để đánh bạc với người khác nhằm mục đích thu lợi bất chính, cụ thể:
Vào tối ngày 04/12/2019, Lê Văn Đ, Lê Văn T, Lương Thế T, Lê Đăng Th đến nhà Hồ Sỹ T gặp Lê Đăng Đ để đánh bạc bằng trò chơi điện tử trên máy “Thỏ, Khỉ”. Khi đến nhà T, Lê Văn T mua với Đ 10.000 điểm (Mười nghìn điểm) tương ứng với số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) và đã trả tiền cho Đ; Lê Văn Đ mua với Đ 3.000 điểm (ba nghìn điểm) tương ứng với số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chưa trả tiền cho Đ; Lê Đăng Th mua với Điệp 5.000 điểm (Năm nghìn điểm) tương ứng với số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) đã trả tiền cho Đ; Lương Thế T mua với Đ 1.000 điểm (Một nghìn điểm) tương ứng với số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) chưa trả tiền cho Đ.
Để đánh bạc bằng hình thức chơi game “Thỏ, Khỉ” các đối tượng quy ước như sau: Nếu muốn tham gia trò chơi, người chơi phải đưa cho Đ một số tiền tùy ý, sau đó Đ sẽ nộp tiền tương ứng với số tiền mà người chơi muốn chơi. Theo quy đổi, cứ 1.000đ (Một nghìn đồng) tương ứng với 10 điểm (Mười điểm) trên máy. Sau khi nộp điểm vào máy, người chơi sẽ chọn số điểm đặt cược tùy ý vào các ô con vật mình muốn. Trên máy có 11 ô, trong đó có 05 ô màu xanh, 05 ô màu đỏ có hình con vật Thỏ, Khỉ, Gấu, Voi, Sư Tử và có 01 ô hình con Rồng. Người chơi sẽ có 30 (ba mươi) giây để đặt cược số điểm và chọn ô con vật muốn chọn. Sau khi chọn, máy sẽ quay, nếu quay vào ô con vật người chơi ban đầu thì thắng cuộc và ngược lại sẽ mất đi số điểm đã đặt cược. Nếu máy dừng lại ở ô có hình con Thỏ thì sẽ nhân gấp 5 hoặc 6 lần; dừng lại ở ô con khỉ thì sẽ nhân gấp 8, 9 hoặc 10 lần; dừng lại ở ô có hình con gấu thì sẽ nhân gấp 10 hoặc 12 lần; dừng lại ở ô có hình con voi thì sẽ nhân gấp 12,15 hoặc 16 lần; dừng lại ở ô có hình con sư tử thì sẽ nhân gấp 15,16 hoặc 18 lần; dừng lại ở ô có hình con rồng thì sẽ nhân từ 24 đến 99 lần. Khi dừng chơi, người quản lý máy sẽ căn cứ số điểm trên máy tại vị trí người chơi để trả tiền thắng thua.
Các đối tượng đánh bạc đến 23 giờ cùng ngày thì bị tổ công tác Công an huyện Quỳnh Lưu bắt quả tang. Qua kiểm tra, tại vị trí màn hình nơi Đ đứng hiện dãy số 63960 điểm tương ứng với 6.396.000đ (Sáu triệu ba trăm chín mươi sáu nghìn đồng), tại vị trí Lê Văn Đ đứng hiện dãy số 50.000 điểm tương ứng với 5.000.000đ (Năm triệu đồng), tại vị trí Lê Văn đứng hiện dãy số 78000 điểm tương ứng với số tiền 7.800.000đ (bảy triệu tám trăm nghìn đồng), tại vị trí Lương Thế T đứng hiện dãy số 2990 điểm tương ứng với 299.000đ (Hai trăm chín mươi chín nghìn đồng), tại vị trí Lê Đăng Th đứng hiện dãy số 14200 điểm tương ứng với số tiền 1.420.000đ (Một triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu tại nhà Hồ Sỹ T 01 (một) máy trò chơi “Thỏ, Khỉ” hình hộp chữ nhật, trên bề mặt xung quanh máy có in hình con rồng; thu giữ của Lê Đăng Đ số tiền 3.100.000đ (ba triệu một trăm nghìn đồng), 01 miếng nhựa hình chữ nhật kích thước 3x2 cm, có in chữ nước ngoài là chíp điều khiển, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S6E, màu bạc; thu trong người Lê Văn T số tiền 90.000đ (Chín mươi nghìn đồng); thu của Lê Văn Đ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung J6, màu đen; thu của Lê Đăng Th 01 chiếc điện thoại Sam sung galaxy J2 Pro; thu của Lương Thế T một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu mobell.
Quá trình điều tra số tiền chứng minh các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc và phải chịu trách nhiệm hình sự là: Lê Đăng Đ 15.900.000đ (Mười lăm triệu chín trăm nghìn đồng); Lê Văn T 7.800.000đ (Bảy triệu tám trăm nghìn đồng); Lê Văn Đ 5.000.000đ (Năm triệu đồng); Lương Thế T 299.000đ (hai trăm chín mươi chín nghìn đồng); Lê Đăng Th 1.420.000đ (Một triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng). Do vậy, Lê Đăng Đ, Lê Văn T và Lê Văn Đ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.
Tại cơ quan điều tra các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Bản cáo trạng số: 42/CT- VKS-HS ngày 28 tháng 2 năm 2020 của Viện kiểm sát nh©n dân huỵên Quỳnh Lưu ®· truy tố các bị cáo: Lê Đăng Đ, Lê Văn T và Lê Văn Đ về téi "§¸nh b¹c" theo quy ®Þnh t¹i kho¶n 1 §iÒu 321 Bé luËt h×nh sù.
Tại phiên Toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu giữ quyền công tố phát biểu luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm như đã truy tố đối với bị cáo Lê Đăng Điệp cùng các đồng phạm. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự
- Xử phạt bị cáo: Lê Đăng Đ từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng.
Phạt tiền bổ sung bị cáo từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 36 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt các bị cáo: Lê Văn T từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ.
Khấu trừ thu nhập mỗi tháng từ 500.000 đồng đến 700.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 36 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo: Lê Văn Đ từ 10 tháng đến 13 tháng cải tạo không giam giữ.
Khấu trừ thu nhập mỗi tháng từ 500.000 đồng đến 700.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:
- Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 3.100.000 đồng hiện đang tạm gửi vào Kho bạc Nhà nước huyện Quỳnh Lưu theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 28/02/2020 của Công an huyện Quỳnh Lưu.
- Tuyên trả lại cho anh Phan Công S 01 máy trò chơi Thỏ, Khỉ hình hộp chữ nhật, trên bề mặt xung quanh máy có in hình con rồng; 01 miếng nhựa hình chữ nhật kích thước 3x2 cm, có in chữ nước ngoài là chíp điều khiển.
- Tuyên trả cho Lê Văn T số tiền 90.000 đồng hiện đang tạm gửi vào Kho bạc Nhà nước huyện Quỳnh Lưu theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 28/02/2020 của Công an huyện Quỳnh Lưu, đây là số tiền không liên quan đến hành vi phạm tội song tạm giữ để bảo đảm cho việc thi hành án.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳnh Lưu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Xét quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo: Lê Đăng Đ, Lê Văn T và Lê Văn Đ đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào tối ngày 04/12/2019, tại nhà Hồ Sỹ T, địa chỉ khối 11, thị trấn C, huyện QL, tỉnh Nghệ An, các đối tượng Lê Văn Đ, Lê Văn T, Lương Thế T, Lê Đăng Th và Lê Đăng Đ đang có hành vi đánh bạc bằng máy điện tử “Thỏ, Khỉ” thì bị tổ công tác Công an huyện Quỳnh Lưu phát hiện, bắt quả tang. Quá trình điều tra chứng minh số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc và phải chịu trách nhiệm hình sự là: Lê Đăng Đ 15.900.000 đồng; Lê Văn T 7.800.000 đồng; Lê Văn Đ 5.000.000 đồng.
Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình đã gây ra. Từ những phân tích nêu trên đã có đủ căn cứ kết luận: Các bị cáo Lê Đăng Đ, Lê Văn T và Lê Văn Đ phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Trong vụ án này các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không có tổ chức chặt chẽ nên xác định là vụ án đồng phạm giản đơn. Về tính chất: Các bị cáo thực hiện hành vi mang tính bột phát, không có ý định từ trước. Các bị cáo đến chơi trò chơi điện tử sau đó cùng rủ nhau chơi đánh bạc, không phải là những người chơi cờ bạc chuyên nghiệp nên cũng cần cân nhắc về mặt hình phạt đối với các bị cáo thể hiện sự nhân đạo của pháp luật.
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Đối với Lê Đăng Đ là người được giao quản lý máy trò chơi điện tử đã lợi dụng sự tin tưởng của chủ máy, tham gia đánh bạc với người khác với số tiền chứng minh vào việc đánh bạc là 15.900.000 đồng là số tiền nhiều nhất nên cần phải lên một mức án nghiêm và cao hơn các bị cáo khác trong vụ án. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, có bố đẻ là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về nhân thân: Năm 2002 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 15 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” đã được xóa án tích. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà xử cho bị cáo mức án treo, ấn định thời gian thử thách gấp đôi đối với bị cáo cũng có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Lê Đăng Đ 10.000.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với Lê Văn T và Lê Văn Đ tham gia đánh bạc với vai trò đồng phạm thứ yếu. Trong vụ án này các bị cáo tham gia đánh bạc với số tiền ít. Song cũng cần phải có hình phạt nghiêm và tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để răn đe giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có các tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Lê Văn T có thêm tình tiết giảm nhẹ là có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương, gia đình có công với cách mạng quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần xử phạt cải tạo không giam giữ cũng có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo.
Cần khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo Lê Văn T và Lê Văn Đ mỗi tháng 500.000 đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Đối với Lê Đăng Th và Lương Thế T là những người tham gia đánh bạc cùng với Lê Đăng Đ bằng máy “Thỏ, Khỉ”, nhưng chưa đủ định lượng cấu thành tội đánh bạc, vì vậy cơ quan CSĐT Công an huyện Quỳnh Lưu đã xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền.
Đối với Hồ Sỹ T là chủ nhà nơi đặt máy trò chơi “Thỏ, Khỉ”, quá trình điều tra xác định T không biết các đối tượng đang đánh bạc bằng hình thức chơi game “Thỏ, Khỉ” nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Đối với Phan Công S là chủ sở hữu máy “Thỏ, Khỉ”. Quá trình điều tra xác minh S đặt máy với mục đích thu tiền dịch vụ, việc Đ đánh bạc cùng với các đối tượng trên S không biết nên không phải chịu trách nhiệm hình sự
. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 3.100.000 đồng hiện đang tạm gửi vào Kho bạc Nhà nước huyện Quỳnh Lưu theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 28/02/2020 của Công an huyện Quỳnh Lưu tài khoản số: 3591.0.9014412.00000.
- Tuyên tịch thu bán hóa giá sung quỹ Nhà nước 01 máy trò chơi Thỏ, Khỉ hình hộp chữ nhật, trên bề mặt xung quanh máy có in hình con rồng; 01 miếng nhựa hình chữ nhật kích thước 3x2 cm, có in chữ nước ngoài là chíp điều khiển là phương tiện, công cụ phạm tội.
- Tuyên trả cho Lê Văn T số tiền 90.000 đồng hiện đang tạm gửi vào Kho bạc Nhà nước huyện Quỳnh Lưu theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 28/02/2020 của Công an huyện Quỳnh Lưu, tài khoản số: 3591.0.9014412.00000 là số tiền không liên quan đến hành vi phạm tội song tạm giữ để bảo đảm cho việc thi hành án.
Các vật chứng khác không liên quan đến hành vi phạm tội, trong quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an huyện Quỳnh Lưu đã trả cho các đối tượng nên không xem xét.
. Về án phí: Các bị cáo phải nộp tiền án phí theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo: Lê Đăng Đ 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Đăng Đ cho UBND thị trấn C, huyện QL, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự: Phạt tiền bổ sung bị cáo Lê Đăng Đ 10.000.000đ (mười triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
2/ Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 36 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo: Lê Văn T 15 (lăm) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” được trừ đi 06 ngày tạm giữ = 18 ngày cải tạo không giam giữ, còn phải chấp hành 14 (Mười bốn) tháng 12 (mười hai) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã QL, huyện QL, tỉnh Nghệ An nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Lê Văn T cho UBND xã QL, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ, gia đình bị cáo phối hợp với UBND xã QL, huyện QL, tỉnh Nghệ An trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo.
Khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Lê Văn T mỗi tháng 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) trong thời gian chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ để nộp ngân sách Nhà nước.
3/ Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 36 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo: Lê Văn Đ 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” được trừ đi 06 ngày tạm giữ = 18 ngày cải tạo không giam giữ, còn phải chấp hành 11 (Mười một) tháng 12 (mười hai) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND thị trấn C, huyện QL, tỉnh Nghệ An nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Lê Văn Đ cho UBND thị trấn C, huyện QL, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ, gia đình bị cáo phối hợp với UBND thị trấn C, huyện QL, tỉnh Nghệ An trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo.
Khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Lê Văn Đ mỗi tháng 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) trong thời gian chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ để nộp ngân sách Nhà nước.
Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
4/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 3.100.000 đồng hiện đang tạm gửi vào Kho bạc Nhà nước huyện Quỳnh Lưu theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 28/02/2020 của Công an huyện Quỳnh Lưu tài khoản số: 3591.0.9014412.00000.
- Tuyên trả cho Lê Văn T số tiền 90.000 đồng hiện đang tạm gửi vào Kho bạc Nhà nước huyện Quỳnh Lưu theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 28/02/2020 của Công an huyện Quỳnh Lưu, tài khoản số: 3591.0.9014412.00000 là số tiền không liên quan đến hành vi phạm tội song tạm giữ để bảo đảm cho việc thi hành án.
- Tuyên tịch thu bán hóa giá sung quỹ Nhà nước 01 máy trò chơi Thỏ, Khỉ hình hộp chữ nhật, trên bề mặt xung quanh máy có in hình con rồng; 01 miếng nhựa hình chữ nhật kích thước 3x2 cm, có in chữ nước ngoài là chíp điều khiển.
(Các vật chứng có đặc điểm phản ánh như trong biên bản giao nhận vật chứng. Hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/3/2020).
5/ Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo: Lê Đăng Đ, Lê Văn T và Lê Văn Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6/ Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Tỉnh Nghệ An./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND H.Quỳnh Lưu; - Cơ quan điều tra h.Q/Lưu; - Cơ quan thi hành án hình sự h. Q/Lưu; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - TAND tỉnh Nghệ An; - Thi hành án hình sự; - Chi cục THADS huyện Q/Lưu; - UBND xã QL (để biết); - UBND thị trấn C (để biết); - Lưu Hồ sơ- VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Thị Đóa |