vanban.org

Bản án 45/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước Tuyên án 08/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh T - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC NINH
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:45 /2020/HS-ST
Ngày: 08/6/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thành Liêm

Các hội thẩm nhân dân 1. Ông:Bùi Quang Phú.

2.Bà Ngô Thị Thùy Trang

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Anh Hùng- Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Giang Huy- Kiểm sát viên .

Ngày 08/6/2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xét xử vụ án hình sự thụ lý số 35/2020/TLST-HS ngày 10/04/2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:43/2020/QĐXXST-HS ngày 25/5/2020 đối với

Bị cáo:Nguyễn Thanh T; sinh năm 1994. tại Trà Vinh; Tên gọi khác: không ; Hộ khẩu thường trú: ấp 11, xã Long Hữu,huyện Duyên Hải, tỉnh trà vinh; Nơi cư trú: khóm 1, phường 2,thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn S sinh năm 1968 và bà Ngô Thị L sinh năm 1970 ; vợ: Nguyễn Thị Linh T1 sinh năm 1992; bị cáo có 02 người con lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2016, Tiền án không, tiền sự không.

Bị bắt giữ từ ngày 15/01/2020 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt sản ” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

- Bị hại: Nguyễn Thị Q sinh năm 1992 (có mặt)

Địa chỉ: ấp Thạnh Cường, xã Lộc Thạnh. huyện Lộc Ninh , tỉnh Bình Phước.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Từ Ánh N sinh năm 1988 (Vắng)

Địa chỉ: thôn 5, xã Hàm Đức, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Nguyễn Văn P sinh năm 1986.(Vắng)

Địa chỉ: KP Bình Minh 2, P Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Vũ Huy H sinh năm 1991.(Vắng)

Địa chỉ:KP Phú Hưng, phường Phú Thịnh, TX Bình Long, tỉnh Bình Phước.

Vũ Xuân L sinh năm 1991.(Vắng)

Địa chỉ :ấp 8 C, xã Lộc Hòa, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 05/2019 Nguyễn Thanh T từ Trà Vinh đến xã Lộc An huyện Lộc Ninh tìm việc làm. Thời gian này, T có quen biết với chị Nguyễn Thị Q. Biết chị Q có 01 xe hiệu Yamaha số loại No ZZa Grande biển số 93F1-282.50 thường để ở tiện cắt tóc của chị Q tại ấp 5B, xã Lộc Tấn, huyện Lộc Ninh. Tỉnh Bình Phước.

Khoảng 9 giờ ngày 23/7/2019 T gọi điện cho chị Q hỏi mượn xe đi công chuyện, chị Q đồng ý cho T mượn xe. Khoảng 10 giờ T đến tiệm tóc của chị Q lấy xe đi đến thị trấn Chơn Thành, huyện Chơn Thành để tìm bạn đòi tiền do nợ T. Nhưng không gặp được, T nảy sinh ý định dem xe đi bán. Nhưng do không có giấy xe nên không bán được. Đến 14 giờ T quay về và gặp chị Q nói dối là T đi xa nhưng nếu không có giấy xe sợ bị Công an kiểm tra tin vào lời nói của T, Chị Q giao giấy đăng ký xe cho T. Ngoài ra còn đưa cho Tuấn 1.600.000đ nhờ T mua dùm trái cây đem về bán.

T điều khiển từ Lộc Tấn đến vòng xoay của Thị Trấn Lộc Ninh gặp người tên T1 không rõ nhân thân bán xe với giá 6.000.000đ và tiêu xài hết.

Không thấy T quay về nên chi Quyền đã báo Công an về việc bị lừa lấy tài sản.

Tại cơ quan điều tra bị cáo đã thừa nhận hành vi pham phamt tội của mình.

Tại kết luận định giá tài sản số 10/01/2020/KL-HĐĐGTS ngày 15/01/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lộc Ninh kết luận 01 xe mô tô hiệu YAMAHA - NoZZa Grenda có giá trị 20.000.000đ.

Tại Bản cáo trạng số 40/CT-VKSLN ngày 09/4/2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Lừa đảo chiếm đạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T từ 12 đến 15 tháng tù.

Bị cáo không tranh luận, không kêu oan.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:

Khoảng 14 giờ ngày 23/7/2019,bị cáo Tuấn đã mượn xe mô tô cùng giấy đăng ký xe, giấy chứng minh nhân dân do chị Q để trong cốp xe đem bán lấy tiền tiêu xài.

Với thủ đoạn lợi dụng sự quen biết với bị hại, bị cáo đã hỏi mượn tài sản có giá trị khi bị hại giao xe và giấy tờ xe bị cáo đem bán lấy tiền tiêu xài . Giá trị tài sản xác định tại thời điểm bị cáo chiếm đoạt là 20.000.000đ.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh truy tố bị cáo về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo qui định tại 1 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Đối với người mua xe do bị cáo bán, tuy có giấy đăng ký xe, nhưng giá 6.000.000đ là không đúng với giá thực tế có dấu hiệu của tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Ninh không xác định được người mua trực tiếp của Tuấn bán nên chưa có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự.

Đối với chiếc xe của chị Q, sau khi Tuấn đã bán chiếc xe này được đem bán lại cho một cửa hàng mua bán xe cũ tại khu phố Phú Hưng, phường Phú Thịnh, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước do anh Vũ Huy H làm chủ với giá 18.000.000đ. Sau đó anh H bán chiếc xe này cho cửa hàng xe máy Phương Nam tại khu phố Bình Mình 2, phường Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương do anh Nguyễn Văn P làm chủ với giá 23.000.000đ. Anh P bán lại cho anh Từ Ánh N với giá 26.800.000đ.

Tòan bộ thủ tục đăng ký chuyển nhượng được anh H nhờ một người tên T2 ở Lộc Ninh cũng là người bán xe cho anh H thực hiện.

Hồ sơ Chiếc xe này đã được chuyển vùng và được cấp giấy đăng ký mới mang tên Từ Ánh N biển số xe là 86B3-750.43. Biết mua phải xe gian, anh N đã tự nguyện giao nộp lại chiếc xe nói trên cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Ninh.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Ninh không tìm được người tên T2 nên chưa có căn cứ xử lý.

Quá trình diễn biến mua bán xe giữa Vũ Huy H và anh Nguyễn Văn P khi mua xe, người đem bán xe có đầy đủ giấy tờ đăng ký và giá bán tương đương giá thị trường anh H và anh P cũng không biết xe này do T lừa của chị Q đem bán nên anh H và anh P không phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp này.

Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội cũng như tại phiên tòa công khai, bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên bị cáo chịu trách nhiệm về tội phạm bị cáo thực hiện.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội của mình với lỗi cố ý. Do đó, cần có một hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả bị cáo gây ra nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo thành người tốt, có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân: tuy bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng quá trình điều tra, bị cáo còn khai nhận năm tháng 12/2017 bị cáo có trộm 01 chiếc nghe của anh Phan Văn Đ ở xã Long Hữu, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. Ngày 30/01/2029 có trộm 01 chiếc vỏ lãi, 01 bình ắc quy của anh Trần Trường T3 thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa vũng Tàu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Ninh đã có văn bản gửi đến Công an huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh và thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa vũng Tàu để giải quyết theo thẩm quyền.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do vậy, bị cáo được Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là cần thiết được hội đồng xét xử chấp nhận.

Về vật chứng vụ án:

Chiếc xe mô tô hiệu Yamaha NoZZa đã thu hồi. Qua đối chiếu thông tin về số máy, số khung, hồ sơ di chuyển xác định chiếc xe do anh Từ Ánh N giao nộp mang biển số xe là 86B3-750.43 đúng là xe của chị Nguyễn Thị Q đã mua và đăng ký ngày 19/9/2016 tại Công an huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước với biển số được cấp: 93F1-282.50 là tài sản hợp pháp của chị Q cần trả lại cho chị Q

Đối với bộ hồ sơ đăng ký xe của Từ Ánh N trong quan hệ mua bán bên bán chị Nguyễn Thị Q, bên mua Trần Ánh N là không đúng nên cần thiết hủy bỏ toàn bộ các giấy tờ liên quan trong hợp đồng mua bán xe nói trên.

Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiện tòa, chị Q yêu cầu nhận lại chiếc xe là có căn cứ chấp nhận.

Đối với số tiền 1.600.000đ.bị hại không yêu cầu bị cáo phải trả lại nên không xem xét.

Số tiền anh Từ Nguyệt Á mua xe, 26.800.000đ. Quá trình điều tra, anh Vũ Xuân L tự nguyện cho anh Nt 16.000.000đ.Số tiền còn lại, anh N không yêu cầu đòi lại là ý chí tự nguyện của anh N hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

[2] Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 38 , Điều của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 01 năm tù. Thời gian tính tù từ ngày 15/01/2020.

Tiếp tục tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ngày tình từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.

[3] Vật chứng vụ án:

Trả cho Nguyễn Thị Q 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha số loại Nozza màu xanh, số máy E3N4E111910 số khung RLCSE7610GY111596.

Tuyên hủy bỏ các giấy tờ liên quan trong quan hệ giao dịch thể hiện tên người bán Nguyễn Thị Q và Người mua Từ Ánh N các tài liệu gồm:

Giấy bán, cho, tặng xe ngày 09/9/2019, giấy sang tên di chuyển ngày 10/9/2019, Phiếu sang tên, di chuyển xe ngày 11/9/2019, Giấy đăng ký xe của Từ Ánh N ngày 01/10/2019.Giấy chứng nhận đăng ký mô tô xe máy số 052237 cấp cho Từ Ánh N biển số 86B3-750.43 của Công an huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Chị Nguyễn Thị Q có trách nhiệm liên hệ đến Công an huyện Lộc Ninh để làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận đăng ký xe theo quy định.

Trả cho bị cáo Nguyễn Thanh T 01 xe mô tô hiệu Fashion biển số 68K9-5073, Giấy đăng ký xe tên Nguyễn M, 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen, 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thanh T.

( Biên bản giao nhận vật chứng sô 0006724 ngày 27 tháng 5 năm 2020 của chi cục thi hanh án dân sự huyện Lộc Ninh)

[4] Về án phí:

Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000đ(hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, bị hại, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo qui định.

Cỡ chữ