- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Tùng - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Áp dụng: Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; điểm b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a,b khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:45 /2020/HSST Ngày 04/8/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC -TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thái
Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Trịnh Văn Hùng
Bà: Ngô Thị Phú
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trương Mỹ Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên tòa: Bà: Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 47/2020/HSST ngày 15/7/2020, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:46/2020/QĐXXST-HS ngày 22/7/2020 đối với bị cáo:
Phạm Văn T - Sinh năm: 2000; Sinh trú quán: thôn M, xã M L, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Phạm Văn Đ và bà Vũ Thị Kh; Gia đình có 04 anh em bị cáo là con thứ tư; bị cáo chưa có vợ.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Là đối tượng nghiện chất ma túy.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/4/2020 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Ngƣời làm chứng: Nguyễn Văn H- sinh năm 1999; Địa chỉ: thôn K L, xã H L, huyện Hậu Lộc. Vắng mặt tại phiên tòa.
*Ngƣời chứng kiến: Anh Hoàng Văn T - Sinh năm 1978; Địa chỉ: Thôn M T, xã M L, huyện Hậu Lộc,Thanh Hóa. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Hồi 11 giờ 45 phút ngày 08/4/2020, Phạm Văn T đang ở nhà thì nghe tiếng gọi ngoài cổng. T đi ra thì thấy Nguyễn Văn H, sinh năm 1999 ở thôn K L, xã H L. Hải hỏi T: “Còn không để cho cái”, T không nói gì và đi vào phòng ngủ lấy 01 tép ma túy mang ra đưa cho H, đồng thời H đưa cho Tùng 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng. Ngay lúc này, Tổ công tác của Công an huyện Hậu Lộc, đang làm nhiệm vụ tại xã M L đã phát hiện và bắt quả tang Phạm Văn T, Nguyễn Văn H. Tổ công tác đã lập biên bản, thu giữ của Nguyễn Văn H một ống nhựa màu đen, bịt kín hai đầu, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục vụn (niêm phong ký hiệu M1), H khai đó là ma túy vừa mua của Phạm Văn T; thu giữ ở cạp quần sau lưng Phạm Văn T đang mặc số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), T khai nhận đó là tiền vừa bán ma túy cho Nguyễn Văn H.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hậu Lộc đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp số 15 ngày 08/4/2020, kết quả; thu giữ trên móc treo quần áo trong phòng ngủ của Phạm Văn T 05 (năm) ống nhựa màu đen bịt kín hai đầu, bên trong đều chứa chất bột màu trắng dạng cục vụn (niêm phong ký hiệu M2), Phạm Văn T khai nhận đó là ma túy, ngoài ra không thu giữ thêm được gì liªn quan đến vụ án..
T¹i KÕt luËn gi¸m ®Þnh sè 1142/PC09 ngµy 13/4/2020 cña Phßng kü thuËt h×nh sù C«ng an tØnh Thanh Ho¸ kÕt luËn: Chất bột màu trắng dạng cục vụn trong phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,055g (không phẩy không năm năm gam) loại Heroine. Chất bột màu trắng dạng cục vụn trong phong bì niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,193g (không phẩy một chín ba gam) loại Heroin.
Về nguồn gốc số ma túy Phạm Văn T khai nhận, ngày 06/4/2020 T đi xe buýt từ nhà ra Thị Trấn Hà Trung mua 400.000đ, 01 gói ma túy của một nam thanh niên không biết tên tuổi, địa chỉ . Sau đó về nhà chia ra thành 08 phần và đều đựng trong các ống nhựa màu đen, bịt kín hai đầu. Phạm Văn T đã sử dụng hết 02 ống, 01 ống bán cho H và 05 ống bị thu giữ trong quá trình khám xét, số ma túy này Phạm Văn T tàng trữ nhằm mục đích là để sử dụng dần và có ai hỏi mua thì bán.
VËt chøng gåm: 01 phong b× niªm phong (mẫu vËt hoµn l¹i sau gi¸m ®Þnh) và số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) hiện đã chuyển đến Chi côc Thi hµnh ¸n d©n sù huyÖn HËu Léc, chê xö lý.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho T, do không biết tên tuổi địa chỉ nên chưa có căn cứ xử lý theo quy định của pháp luật.
*Tại Cáo trạng số 49/CT - VKSHL ngày 15 tháng 7 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
*Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS, tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đề nghị xử phạt Phạm Văn T từ 30 đến 36 Tháng tù. Vật chứng đề nghị áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a,b khoản 2 Điều 106 BLTTHS Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số vật chứng hoàn lại sau giám định, tịch thu xung quỹ nhà nước 200.000đ do phạm tội mà có, không áp dụng hình phạt bổ sung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hậu Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 12 giờ ngày 08/4/2020, tại thôn M Th, xã M L, huyện Hậu Lộc Phạm Văn T bán trái phép 0,055g (Không phẩy không năm năm gam) loại Heroin và tàng trữ để sử dụng và bán 0,193 (Không phẩy một chín ba gam) loại heroine. Tổng khối lượng chất ma túy mà T phải chịu trách nhiệm hình sự là 0,248g (Không phẩy hai bốn tám gam)loại heroine.
Cáo trạng số 49/CT -VKSHL ngày 15/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định khoản 1 Điều 251 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội do đó phải xử lý theo quy định của pháp luật.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo không phạm tình tiết tăng nặng.
Do đó khi lượng hình cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện sự khoan hồng của pháp chế XHCN. Xét cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 BLHS đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Số ma túy thu được trong vụ án là vật cấm lưu hành do đó tịch thu tiêu hủy, tịch thu xung quỹ nhà nước 200.000đ do phạm tội mà có.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Áp dụng: Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; điểm b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a,b khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội.
* Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
*Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 08/4/2020.
*Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ma túy niêm phong hoàn lại sau giám định, tịch thu xung quỹ nhà nước 200.000đ do phạm tội mà có . Đặc điểm theo biên bản bàn giao và Ủy nhiệm chi ngày 15/7/2020 giữa Công an, Kho bạc nhà nước và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.
*Án phí: Bị cáo Phạm Văn T phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Nơi gửi
| - TAND Tỉnh Thanh Hóa - VKSND huyện Hậu Lộc -VKSND Tỉnh Thanh Hóa - Công an huyện Hậu Lộc - THADS huyện Hậu Lộc - Bị cáo, Người liên quan - Lưu hồ sơ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Hội thẩm nhân dân | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Thái Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Thái |