vanban.org

Bản án 45/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 03/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc T (tên gọi khác: L) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T (tên gọi khác: L) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 10/4/2020). Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc T (tên gọi khác: L) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN C
THÀNH PHỐ GIA NGHĨA
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2020/HS-ST
Ngày: 03-8-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Ất và bà Cù Thị Như Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến Như - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2020/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2020/HSST-QĐ ngày 20/7/2020, đối với:

Bị cáo Nguyễn Quốc T (tên gọi khác: L), sinh năm 1982, tại tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Tổ dân phố 4, phường Đ, thành phố N, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 1/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Đ; có vợ là Trần Thị Hoàng Y, 02 con ( lớn nhất 17 tuổi, nhỏ nhất 15); Tiền sự: 01: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 10/XPVPHC ngày 27/12/2019 của Công an xã Đắk R’Moan, thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông xử phạt 1.500.000đ, đã chấp hành xong, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính; nhân thân: Tại bản án hình sự phúc thẩm số 272/2002/HSPT ngày 09/12/2002 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 06/5/2003, đã xóa án tích; Tại bản án hình sự sơ thẩm số 16/2009/HS-ST ngày 25/02/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa đã xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 06/5/2013, đã xóa án tích; Tại bản án hình sự sơ thẩm số 13/2015/HSST ngày 11/02/2015 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt 27 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chấp ma túy”, chấp hành xong ngày 02/8/2016, đã xóa án tích; bị bắt tạm giữ ngày 10/4/2020, hiện đang tạm giam. Có mặt.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1961;

Địa chỉ: Tổ dân phố 6, phường Đ, thành phố G, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14h00’ ngày 10/02/2020, Nguyễn Quốc T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Novou BKS 93T6-8595 (Xe của Nguyễn Thị Kim H1 - SN 1991, là người chung sống như vợ chồng với T) chở H1 từ phòng trọ tại tổ 3, phường T, thành phố N đến nhà bà Nguyễn Thị H (SN 1961), là người quen của T tại tổ 4, phường Đ có công việc. Khi đến nơi, do không thấy bà H ở nhà nên T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. T nói H1 ngồi trên xe đợi T đi vệ sinh, rồi một mình đi ra phía sau nhà bà H, đến chuồng gà bắt 01 con gà trống (Loại gà nuôi thả vườn), trọng lượng khoảng 3,5kg, bỏ vào trong người rồi kéo áo khoác trùm lên, sau đó điều khiển xe mô tô chở H1 về phòng trọ, cất dấu con gà vào góc khuất của phòng.

Đến khoảng 08h30’ ngày 11/02/2020, T tiếp tục điều khiển xe Novou 93T6-8595 đến nhà bà H và bắt trộm thêm 03 còn gà mái (Cùng loại gà nuôi thả vườn), tổng trọng lượng khoảng 06kg, bỏ vào trong người, kéo áo khoác trùm lên rồi điều khiển xe về phòng trọ, lấy thêm con gà đã trộm cắp trước đó, rồi mang cả 04 con gà này đến Chợ N bán cho chị Nguyễn Thị L (SN 1977), trú tại tổ 4, phường Đ, là người chuyên mua bán gà thịt với giá 730.000đ và tiêu xài cá nhân hết. Cùng ngày, bà H đã làm đơn trình báo sự việc đến Công an phường Nghĩa Đức. Đến ngày 10/4/2020, T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Gia Nghĩa đầu thú.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐG ngày 14/4/2020 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự thành phố Gia Nghĩa kết luận: Giá trị 04 con gà nêu trên tại thời điểm mất trộm là 920.000đ.

Trước đó vào ngày 20/12/2019, Nguyễn Quốc T bị Công an xã Đắk R’Moan, thành phố Gia Nghĩa xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Đến ngày 14/01/2020, T đã nộp phạt xong, nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, nay lại tiếp tục vi phạm.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:

Đối với 04 con gà là vật chứng của vụ án, sau khi mua từ Nguyễn Quốc T, chị Nguyễn Thị L đã bán cho người khác (Không rõ nhân thân) nên không thu giữ được.

Đối với xe Novou BKS 93T6-8595, quá trình điều tra đã xác định là tài sản hợp pháp của Nguyễn Thị Kim H1, quá trình Nguyễn Quốc T sử dụng xe làm phương tiện trộm cắp H1 không biết nên không tiến hành thu giữ.

Tại Bản cáo trạng số 49/CT-VKS ngày 25 tháng 6 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hà nh vi của mình và thừa nhận Việ n kiể m sá t truy tố bị cáo về tội danh, khoản và điều luật áp dụng như Cáo trạng là đúng, không oan.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Sau khi sự việc xảy ra, Nguyễn Quốc T đã tác động gia đình bồi thường số tiền 500.000đ cho bà Nguyễn Thị H. Bà H không có yêu cầu gì thêm.

Tại phiên tòa bị cáo không trình bày lời bào chữa, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Gia Nghĩa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Các chứng cứ buộc tội và quan điểm đề nghị xử lý của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Trong 02 ngày 10 và 11/02/2020, tại tổ 4, phường Đ, thành phố N, Nguyễn Quốc T đã lén lúc bắt trộm 04 con gà của bà Nguyễn Thị H. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 920.000đ. Trước đó T có 01 tiền sự về hành vi Trộm cắp tài sản theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 10/XPVPHC ngày 27/12/2019 của Công an xã Đắk R’Moan, thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông xử phạt 1.500.000đ, đã chấp hành xong, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo điển a Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;”

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo nhận thức rằng quyền sở hữu tài sản của người khác luôn được pháp luật bảo vệ, bất kỳ một hành vi chiếm đoạt trái pháp luật nào cũng đều bị xử lý nghiêm theo quy định, vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân cộng với ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt phù hợp đối với hành vi phạm tội của bị cáo. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân xấu tại bản án hình sự số 272/2002/HSPT ngày 09/12/2002 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, Tại bản án hình sự sơ thẩm số 16/2009/HS-ST ngày 25/02/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa đã xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, Tại bản án hình sự sơ thẩm số 13/2015/HSST ngày 11/02/2015 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt 27 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chấp ma túy”;

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hại; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; bị cáo đầu thú sau khi hành vi bị phát hiện. Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo, để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Đối với chị Nguyễn Thị L đã mua bán số gà Nguyễn Quốc T trộm cắp, do chị L không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên không đề cập xử lý là phù hợp.

Tại phiên tòa, qua phần tranh luận, xét quan điểm về đường lối xử lý vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Việc bồi thường thiệt hại: Do bị hại nhận 500.000đ tiền bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:

Đối với 04 con gà là vật chứng của vụ án, sau khi mua từ Nguyễn Quốc T, chị Nguyễn Thị L đã bán cho người khác (Không rõ nhân thân) nên không thu giữ được là phù hợp nên cần chấp nhận.

Đối với xe Novou BKS 93T6-8595, quá trình điều tra đã xác định là tài sản hợp pháp của Nguyễn Thị Kim H1, quá trình Nguyễn Quốc T sử dụng xe làm phương tiện trộm cắp H1 không biết nên không tiến hành thu giữ là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quốc T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc T (tên gọi khác: L) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T (tên gọi khác: L) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 10/4/2020).

2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Quốc T (tên gọi khác: L) phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ