vanban.org

Bản án 45/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Thanh Xuân, TP. Hà Nội Tuyên án 31/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo CHU VĂN T (Tên gọi khác: Chu Văn C) phạm tội “Trộm cắp tài sản".

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo CHU VĂN T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/01/2020.-

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Văn Tráng - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo CHU VĂN T (Tên gọi khác: Chu Văn C) phạm tội “Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
Tòa án nhân dân
Quận Thanh xuân
Thành phố Hà Nội
-------------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2020/ HS-ST
Ngày: 31/03/2020

Nhân danh

Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Tòa án nhân dân Quận Thanh Xuân

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hồng Vân

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Chu Thị Tuyết

Ông Đỗ Quang Linh

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Phương Ánh Nguyệt

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Lan - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 31 tháng 03 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2020/TLST-HS ngày 17.02.2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2020/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 03 năm 2020 đối với bị cáo

CHU VĂN T (Tên gọi khác: Chu Văn C), sinh năm 1995 tại Tuyên Quang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và địa chỉ cư trú: Thôn A, xã B, huyện Hàm Yên, Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Chu Văn CH; Con bà: Tướng Thị V

Tiền án: 03 tiền án

- Ngày 18/3/2016 TAND Thành phố Tuyên Quang xử phạt 7 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản

- Ngày 3/3/2017 TAND Thành phố Tuyên Quang xử phạt 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 230.500đồng)

- Ngày 2/2/2018 TAND huyện Bắc Quang xử phạt 9 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 571.000đồng). Ra trại ngày 11/8/2018

Bị cáo tạm giữ ngày 01/01/2020; Tạm giam ngày 04/01/2020. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số II - Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại:

Ông Nguyễn Chí T; Trú tại : Số nhà 39 ngõ 161 đường C, phường D, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 17/10/2018 CHU VĂN T từ Tuyên Quang xuống Hà Nội tìm việc làm. Khoảng 17h cùng ngày khi đến ngõ 161 đường C tìm nhà trọ, T thấy số nhà 39 ngõ 161 đường C, phường D, Thanh Xuân, Hà Nội mở cửa nên đi vào bên trong và thấy không có ai, T nhìn thấy 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 5S màu xám và 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 5 màu đen của ông Nguyễn Chí T để trên chăn ở phản gỗ giữa nhà nên đã nảy sinh ý định trộm cắp số tài sản trên. T dùng tay lấy trộm 02 chiếc điện thoại và cho vào cạp quần phía trước bên trái rồi nhanh chóng đi ra ngoài tẩu thoát. Lúc này ông Nguyễn Chí T đang đứng gần nhà nhìn thấy T đi từ trong nhà ông Thanh ra nên nghi ngờ T trộm cắp tài sản, qua kiểm tra ông Thanh phát hiện bị mất tài sản là 02 chiếc điện thoại trên. Biết bị phát hiện T đã tự giác lấy 02 chiếc điện thoại vừa trộm cắp trả lại cho ông Thanh. Sau đó ông Thanh đã báo cho Công an phường Hạ Đình để xử lý.

* Công an thu giữ của CHU VĂN T: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 5S màu xám, số Imei: 358825052366794 lắp sim số 0915028307 đã qua sử dụng và 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 5 màu đen, số Imei: 013472004580979 lắp sim số 0969036154 đã qua sử dụng.

Tại công an phường CHU VĂN T khai gian dối tên là Đặng Văn C (C là hàng xóm của T cùng sinh năm 1995, cùng ở tại thôn G, xã T, huyện Hàm Yên, Tuyên Quang). Do khi bị bắt CHU VĂN T khai là Đặng Văn C, qua xác minh Cồn nhân thân chưa TATS, hành vi phạm tội ít nghiêm trong, có nơi cư trú rõ ràng nên cơ quan công an đã tạm cho về chờ xử lý. Ngày 16/12/2019 Cơ quan CSĐT – Công an quận Thanh Xuân khởi tố bị can đối với CHU VĂN T về tội Trộm cắp tài sản. Do T không có mặt tại nơi cư trú nên cơ quan CSĐT – Công an quận Thanh Xuân ra quyết định truy nã đối với T. Ngày 01/01/2020 CHU VĂN T bị bắt theo quyết định truy nã.

Tại cơ quan điều tra, CHU VĂN T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên. Tại bản kết luận định giá tài sản số 287/KLĐG ngày 21/11/2018 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự - UBND quận Thanh Xuân kết luận: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 5S màu xám, số Imei: 358825052366794 đã qua sử dụng có giá 2.500.000đồng và 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 5 màu đen, số Imei: 013472004580979 đã qua sử dụng có giá 1.500.000đồng. Tổng trị giá tài sản là 4.000.000VNĐ. Cơ quan CSĐT – Công an quận Thanh Xuân đã trao trả số tài sản trên cho ông Nguyễn Chí T, ông Thanh đã nhận lại tài sản hiện không có yêu cầu gì.

Tại bản cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 13.02.2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội đã truy tố CHU VĂN T về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay,

Bị cáo công nhận nội dung bản cáo trạng nêu là đúng. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là phạm tội và ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo CHU VĂN T từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Bị cáo T không bào chữa và tranh luận gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên…

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an quận Thanh Xuân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng:

Lời khai nhận tội của bị cỏo tại phiờn tũa hụm nay phự hợp với cỏc tài liệu, chứng cứ cú trong hồ sơ vụ án như: Lời khai của người làm chứng, người bị hại về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra; phù hợp với tang vật, vật chứng thu giữ, biên bản định giá tài sản... có đủ cơ sở khẳng định:

Khoảng 17h ngày 17/10/2018 CHU VĂN T có hành vi trộm cắp 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 5S màu xám, số Imei: 358825052366794, lắp sim số 0915028307 đã qua sử dụng trị giá 2.500.000 đồng và 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 5 màu đen, số Imei: 013472004580979, lắp sim số 0969036154 đã qua sử dụng trị giá 1.500.000đồng của ông Nguyễn Chí T tại số nhà 39 ngõ 161 đường T, phường D, Thanh Xuân, Hà Nội. Tổng trị giá tài sản là 4.000.000đồng.

Hành vi của bị cáo CHU VĂN T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trong xã hội và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vì lợi ích cá nhân vẫn cố ý thực hiện. Mặt khác, nhân thân bị cáo rất xấu, bị cáo đã từng bị 03 lần kết án về hành vi trộm cắp tài sản, điều này thể hiện bị cáo tuy đã được răn đe, giáo dục bằng pháp luật nhiều lần nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hơn nữa, lần phạm tội này của bị cáo khi có 01 tiền án chưa được xoá án tích, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do vậy, cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, nghiêm khắc với bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, cũng giảm một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về những vấn đề khác:

*Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo bản thân không có công ăn việc làm ổn định, không có thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

* Về vật chứng, xử lý vật chứng: Cơ quan công an đã xử lý hết trong quá trình điều tra.

* Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

* Về quyền kháng cáo: bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

Quyết định

1. Tuyên bố bị cáo CHU VĂN T (Tên gọi khác: Chu Văn C) phạm tội “Trộm cắp tài sản".

2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo CHU VĂN T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/01/2020.-

3. Những vấn đề khác :

* Án phí và quyền kháng cáo:

- Áp dụng: Điều 136, 331, 333 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án và danh mức án phí lệ phí Toà án ngày 30/12/2016:

Bị cáo CHU VĂN T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại trong vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Án xử công khai sơ thẩm.

Cỡ chữ