- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Chiến - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về Tội danh: Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn Ch phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2020/HS-ST Ngày: 28/9/2020 |
NH DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Vân Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Chiến
2. Ông Đỗ Ngọc Thắng
Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhânân d huyện Yên Thế.
Đại diện Viện kiểm sát nh d huyện Yên Thế: Bà Nguyễn Thị Nghĩa - Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
Ngày 28/9/2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2020/TLST-HS ngày 10-9-2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2020/QĐXXST-HS, ngày 14/9/2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1995, Tên gọi khác: Không có; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; D tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề ngh: Làm ruộng; Văn hóa: 6/12;
Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1968; Con bà: Phan Thị T, sinh năm 1970; Vợ, con: Chưa có; Gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ 2;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt tại phiên tòa)
* Người bị hại:
1. Chị Nguyễn Hoài V, sinh năm 1978 (có đơn xin vắng mặt)
2. Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1992 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Phố Bà Ba, thị trấn Phồn Xương, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
1. Anh Phan Văn Đ (vắng mặt)
2. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1968 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Bản Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
3. Anh Đinh Văn H, sinh năm 1978 (vắng mặt)
Địa chỉ: Bản T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
4. Chị Vũ Thị Th, sinh năm 1982 (vắng mặt)
Địa chỉ: Bản M, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án diễn biến tại phiên tòa thì vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 26/3/2020, Nguyễn Văn Ch, ở bản Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98N3-1533 đi một mình từ nhà đến dãy nhà cấp 4 không có người ở của chị Nguyễn Hoài V, sinh năm 1978 ở thôn P, thị trấn P, huyện Y mục đích để trộm cắp tài sản. Khi đến nơi, Ch dựng xe mô tô ở ngoài đường rồi cầm điện thoại di động bật đèn pin đi bộ đến vị trí hàng rào nhà chị V rồi trèo qua hàng rào để vào bên trong. Khi vào bên trong, Ch đi dọc theo hành lang của dãy nhà đến trước cửa phòng số 6 (tính từ ngoài cổng đi vào) thì phát hiện cửa phòng khép, không khóa. Ch mở cửa đi vào phòng, dùng điện thoại di động soi tìm kiếm đồ vật, tài sản để trộm cắp. Ch đi đến chiếc kệ gỗ có 02 ngăn kê ở sát tường bên trái theo hướng từ ngoài vào lấy được 01 hộp bìa cát tông bên trong đựng 01 chiếc đồng hồ đeo tay nhãn hiệu STURHLING màu vàng, 01 hộp bìa cát tông bên trong đựng 01 chiếc đồng hồ đeo tay nhãn hiệu MICHAEL KORS màu vàng và 01 tập tiền lẻ mệnh giá 500 đồng. Ch đi đến vị trí chiếc kệ gỗ có 03 ngăn kê ở sát tường bên phải lấy được 01 tập tiền lẻ được buộc bằng dây chun gồm 84 tờ tiền mệnh giá 500 đồng, 26 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, 02 tờ tiền mệnh giá Two Dollars, 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 Won, 01 chiếc túi đựng kính bên trong có 01 chiếc kính màu đen nhãn hiệu RaybanP và 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu trắng. Ch tiếp tục đi đến vị trí chiếc tủ gỗ đựng quần áo kê ở sát nhà vệ sinh trong phòng và trộm cắp được 01 chiếc ví da màu nâu bên trên ví có ký hiệu chữ “VL”. Sau đó, Ch tìm được 01 chiếc túi ni lông ở trong phòng và cho hết số tài sản vừa trộm cắp được vào trong túi ni lông rồi đi ra ngoài bằng lối cũ và mang ra xe mô tô đi về nhà.
Khoảng 11 giờ ngày 27/3/2020, Ch cầm chiếc đồng hồ nhãn hiệu MICHAEL KORS đến quán của anh Nguyễn Trọng i, sinh năm 1974 ở bản M, xã T, huyện Y để sửa nhưng không sửa được nên trên đường về đến cầu Đồng Vương, Ch đã vứt chiếc đồng hồ này xuống dưới cầu.
Đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 27/3/2020, Ch tiếp tục nảy sinh ý định đến nhà chị V trộm cắp tài sản. Ch điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98N3-1533 đi đến nhà chị V rồi dựng xe mô tô ở ngoài đường và trèo tường vào nhà chị V. Khi Ch đi đến phòng số 5 thì thấy cửa phòng khóa, cửa sổ phòng số 5 khép nên Ch mở cửa sổ ra thì thấy có 01 thanh sắt hàn ở cửa sổ bị gãy khuyết nên Ch chui qua ô thoáng cửa sổ vào trong phòng rồi dùng điện thoại soi tìm kiếm tài sản. Ch đi đến vị trí chiếc kệ gỗ có 02 ngăn kê ở sát tường bên phải (theo hướng từ ngoài vào) thì thấy có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J5 màu trắng, Ch cầm đút vào túi quần bên phải, Ch mở ngăn kéo của chiếc kệ gỗ ra trộm cắp được 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, 01 chiếc điện thoại di động Nokia 6700, 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Samsung Galaxy S7580, 01 chiếc máy tính bảng màu xanh nhãn hiệu Samsung, 01 chiếc máy sấy tóc màu trắng nhãn hiệu Kangaroo, 01 lọ nước hoa trên vỏ có chữ VERSACE EROS; 01 củ sạc điện thoại Oppo, 01 dây tai nghe điện thoại, 01 dây sạc điện thoại di động màu đen, 04 dây sạc điện thoại di động màu trắng, 05 đồng xu làm bằng kim loại, 01 chìa khóa xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet, 01 bật lửa làm bằng kim loại màu vàng, 02 chiếc lắc tay, 02 chiếc dây chuyền đeo tay của trẻ em đều làm bằng bạc và 01 hộp đựng dụng cụ cắt móng tay. Ch cho tất cả số tài sản này vào trong túi nilon rồi chui qua ô thoáng cửa sổ ra ngoài. Ch tiếp tục đi về phía cuối dãy nhà thì thấy 01 chiếc cơ bơm nuớc nhãn hiệu NAGAKI đặt ở vị trí dưới téc nước. Ch dùng tay rút phích cắm điện của chiếc cơ ra khỏi ổ cắm rồi tháo phần đầu nối của chiếc cơ với phần nhựa ở téc nước. Ch xách chiếc cơ bơm nước và túi ni lông đựng tài sản trộm cắp được trong phòng số 5 đi ra ngoài. Trên đường đi ra, Ch thấy 01 chiếc ô màu đen dựng ở hành lang nên tiếp tục trộm cắp chiếc ô này rồi ra ngoài bằng lối cũ đi về. Đến khu vực gần cổng trường Trung cấp nghề miền núi Y, Ch dừng xe mô tô lại kiểm tra chiếc điện thoại di động Samsung J5 đút ở túi quần, do bật nguồn không thấy lên nên Ch đã vứt chiếc điện thoại này ở gần cột điện rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô đi về nhà.
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 28/3/2020, Ch mang chiếc cơ bơm nước trộm cắp được đến nhà anh Đinh Văn H, sinh năm 1987 ở bản Txã T, huyện Y bán được 350.000 đồng. Khoảng 10 giờ ngày 01/4/2020, Ch mang 01 tập tiền lẻ mệnh giá 500 đồng đến Phòng giao dịch Agribank chi nhánh Mỏ Trạng đổi số tiền lẻ đó sang tiền chẵn được 500.000 đồng. Ngày 02/4/2020, Ch mang 2 chiếc lắc tay và 2 chiếc dây chuyền bằng bạc đến cửa hàng của chị Vũ Thị Th, sinh năm 1982 ở bản M, xã T, huyện Y bán được 350.000 đồng. Sau đó, Ch đã cho anh Phan Văn Đ, sinh năm 1990 ở cùng bản chiếc máy tính bảng và chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy S7580 trộm cắp được. Anh Đ sau đó lại cho anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1989 ở cùng bản chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy S7580.
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 11/4/2020, Ch rủ Phan Văn Đ đến nhà chị V để trộm cắp tài sản. Khi đến nơi, Đ đứng ngoài canh gác còn Ch trèo tường vào bên trong. Khi đi đến cửa phòng số 4, Ch dùng tay bẻ gãy tay nắm cửa nhưng không mở được cửa phòng, do sợ bị phát hiện nên Ch không tiếp tục cậy cửa nữa mà ra ngoài rồi cùng Đ đi về.
Ngày 13/4/2020, chị V về nhà thì phát hiện bị mất tài sản nên đã làm đơn trình báo đến Công an huyện Y.
Ngày 14/4/2020, Ch giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 điện thoại Iphone 6. Ông Nguyễn Văn T, ở bản Đồ, xã T (là bố Ch) giao nộp 01 chiếc ô màu đen có chữ Haxaco Hanoi.
Ngày15/4/2020, ông T giao nộp 01 chiếc đồng hồ có chữ STUHRLING, 01 điện thoại di động Nokia 6700, 01 hộp bìa cát tông có in chữ STUHRLING, 01 hộp bìa cát tông có in chữ MICHAEL KORS, 01 túi đựng kính màu đen bên trong có 01 chiếc kính có chữ RayBanP và 01 chiếc nhẫn màu trắng, 01 chiếc chìa khóa xe ô tô, 01 lọ nước hoa, 01 hộp đựng dụng cụ cắt móng tay, 01 túi ví da, 01 bật lửa vỏ bằng kim loại, 01 dây sạc màu đen, 01 túi đựng dây sạc và cục củ sạc màu trắng, 01 túi đựng dây sạc điện thoại và tai nghe điện thoại, 05 đồng xu làm bằng kim loại, 84 tờ tiền mệnh giá 500 đồng; 26 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 Won, 02 tờ tiền mệnh giá Two Dollars. Bà Phan Thị Tám, sinh năm 1970 (là mẹ của Ch) đã giao nộp 01 chiếc máy sấy tóc nhãn hiệu Kagaroo. Ông Phan Văn Dũng, sinh năm 1965 ở bản Đồng An, xã Đồng T (là bố Phan Văn Đ) giao nộp 01 chiếc máy tính bảng nhãn hiệu SAMSUNG. Anh Nguyễn Văn T giao nộp 01 điện thoại di động Samsung S7580. Anh Đinh Văn H giao nộp 01 máy bơm nước nhãn hiệu NAGAKI.
Ngày 28/4/2020, Ch đã đến Phòng giao dịch Agribank chi nhánh Mỏ Trạng đổi lại 500.000 đồng tiền lẻ mệnh giá 500 đồng, đến cửa hàng của chị Th mua lại 2 chiếc lắc tay và 1 chiếc dây chuyền bằng bạc và giao nộp số tài sản này cho Cơ quan điều tra.
Ngày 28/5/2020, Ch giao nộp 01 điện thoại Masstel màu đen.
Ngày 29/5/2020, ông T giao nộp 01 xe mô tô biển kiểm soát 98N3-1533.
Tại Kết luận định giá tài sản số 52/KL-HĐĐGTS ngày 26/5/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Thế kết luận: Giá trị tài sản còn lại của số đồ vật tài sản Ch trộm cắp được là 4.445.000 đồng. Trong đó: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 có giá 800.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 6700 có giá 150.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S7580 có giá 100.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J5 có giá 300.000 đồng; 01 máy tính bảng nhãn hiệu Samsung màn hình bị nứt vỡ có giá là 150.000 đồng; 01 túi dựmg dụng cụ cắt móng tay có giá 5.000 đồng; 05 đồng xu làm bằng kim loại sắt có giá 0 đồng; 01 lọ nước hoa trên vỏ có ghi chữ “VERSACEEROS” đã hết dung dịch nước hoa có giá 0 đồng; 01 dây tai nghe điện thoại màu đen đã hỏng có giá 0 đồng; 04 dây sạc điện thoại Samsung đã hỏng có giá 0 đồng; 01 củ sạc điện thoại có chữ oppo đã hỏng có giá 0 đồng; 01 dây sạc điện thoại samsung màu đen đã hỏng có giá 0 đồng; 01 chiếc chìa khóa xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet có giá 350.000 đồng; 02 chiếc dây chuyền đều làm bằng bạc màu trắng, loại deo tay của trẻ con có giá 150.000 đồng; 02 chiếc lắc màu trắng làm bằng bạc, loại lắc bạc đeo tay trẻ con có giá 200.000 đồng; 01 chiếc ô màu đen có ghi chữ Haxaco Hanoi có giá 10.000 đồng; 01 chiếc máy sấy tóc màu trắng, hồng, nhãn hiệu Kagaroo có giá 30.000 đồng; 01 chiếc đồng hồ đeo tay trên dây có chữ STUHRLING có giá 700.000 đồng; 01 chiếc ví da cầm tay màu nâu, nhãn hiệu Louis Vuitton có giá 80.000 đồng; 01 chiếc cơ bơm nước nhãn hiệu NAGAKI có giá 700.000 đồng; 01 chiếc kính màu đen có chữ Ray BanP có giá 700.000 đồng; 01 chiếc nhẫn màu trắng làm bằng chất nhựa giả sừng có giá 20.000 đồng; 01 chiếc đồng hồ đeo tay nhãn hiệu MICHAEL KORS có giá 0 đồng; 01 bật lửa ga vỏ bằng kim loại có giá 0 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 64/KL-HĐĐGTS ngày 01/7/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Thế kết luận: Chi phí thay thế 01 tay nắm cửa hình trụ của loại cửa bằng nhôm kính là 150.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 618/KL-KTHS ngày 20/5/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: 01 tờ tiền ngoại tệ mệnh giá 1000 Won là tiền thật do Ngân hàng trung ương Hàn Quốc phát hành; 02 tờ tiền mệnh giá 02 dollars là tiền thật do Ngân hàng trung ương Hoa Kỳ phát hành.
Tại công văn số 103 ngày 25/5/2020 của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thể hiện: 04 USD quy đổi sang tiền ng hàng nhà nước Việt Nam có trị giá là 94.220 đồng, 1000 Won quy đổi sang tiền ng hàng nhà nước Việt Nam có trị giá là 19.360 đồng.
Kết luận giám định số 808/KL-KTHS ngày 02/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang giám định chữ viết, chữ ký Ch trên bản kê nộp tiền tại Phòng giao dịch Agribank chi nhánh Mỏ Trạng là của Ch.
Cơ quan điều tra đã làm rõ tổng số tài sản Ch trộm cắp được vào ngày 26/3/2020 là 2.181.580 đồng và ngày 27/3/2020 là 2.945.000 đồng. T hành thực nghiệm điều tra, Ch thực hiện thuần thục các động tác trộm cắp tài sản của gia đình chị V.
Quá trình điều tra xác định: 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6; 01 chiếc điện thoại di động Samsung S7580; 01 chiếc điện thoại di động Nokia 6700; 01 chiếc máy tính bảng; 01 chiếc máy sấy tóc; 05 đồng xu; 01 bộ dụng cụ cắt móng tay; 01 chiếc bật lửa; 01 chiếc chìa khóa xe ô tô; 01 dây tai nghe điện thoại; 01 củ sạc điện thoại; 05 dây sạc điện thoại; 01 lọ nước hoa; 02 tờ tiền mệnh giá Two Dollars; 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 Won là tài sản của chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1992 ở phố Bà Ba, thị trấn Phồn Xương, huyện Yên Thế. 01 chiếc đồng hồ nhãn hiệu STUHRLING; 01 hộp bìa cát tông có in chữ STUHRLING; 01 hộp bìa cát tông có in chữ MICHAEL KORS; 01 chiếc cơ bơm nước; 01 chiếc ô màu đen; 84 tờ tiền mệnh giá 500 đồng; 26 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng; 01 túi đựng kính; 01 chiếc kính màu đen; 01 chiếc nhẫn màu trắng; 01 túi ví màu nâu là tài sản của chị Nguyễn Hoài V. Đối với 01 chiếc đồng hồ nhãn hiệu MICHAEL KORS của chị V và 01 chiếc điện thoại di động Samsung J5 của chị Th mà Ch đã vứt đi, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Th, chị V đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác. Anh Huy đã được Ch trả lại số tiền 350.000 đồng và không có yêu cầu bồi thường gì khác.
Tại cơ quan điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Cáo trạng số 44/CT-VKS-YT ngày 05/9/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế truy tố bị cáo Nguyễn Văn Ch về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, sau phần xét hỏi tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nh d huyện Yên Thế thực hành quyền công tố đã luận tội đối với các bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Ch phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1, Điều 173; Điểm b, điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g, khoản 1 điều 52, Điều 38 điều 50 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn Ch từ 8 đến 10 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày tự nguyện hoặc bắt thi hành án.
Do bị cáo chưa có vợ, công ăn việc làm không có, tài sản riêng không có sống phụ thuộc gia đình nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người liên quan không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét.
Về vật chứng: 01 điện thoại Masstel màu đen của bị cáo dùng để soi tìm tài sản trộm cắp nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Áp dụng khoản 2, điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có gì tranh luận với Viện kiểm sát chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. [Về Tố tụng]:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Yên Thế, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.... không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2. [Về hành vi phạm tội]: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Nguyễn Văn Ch thừa nhận. Trong các ngày 26/3/2020 và ngày 27/3/2020 Nguyễn Văn Ch đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản của nhà chị Nguyễn Hoài V. Cụ thể lần thứ nhất vào khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 26/3/2020 Nguyễn Văn Ch đã trộm cắp một số tài sản của nhà chị V trị giá 2.181.580 đồng. (hai triệu một trăm tám mốt nghìn năm trăm tám mươi đồng)
Lần thứ 2 khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 27/3/2020 Nguyễn Văn Ch tiếp tục vào nhà chị V trộm cắp tài sản trị giá 2.945,000đ (hai triệu chín trăm bốn mươi năm nghìn đồng). Tổng trị giá 02 lần Ch trộm cắp tài sản nhà chị V là 5.126.580 đồng).
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người bị hại, lời khai người làm chứng, biên bản thu giữ vật chứng, biên bản định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Điều đó có đủ cơ sở chắc chắn khẳng định: Cáo trạng số 44/CT-VKS-YT ngày 05/9/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế truy tố bị cáo Nguyễn Văn Ch về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp một cách liều lĩnh táo bạo liều lĩnh, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy cần phải có một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra có như vậy mới có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, khoản 1 điều 52 bộ luật hình sự phạm tội nhiều lần
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã khắc phục hậu quả, bản thân năm 2016 có tham gia nghĩa vụ qu sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối chiếu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy: bản th bị cáo còn ít tuổi, không tu trí làm ăn, liên tục thực hiện hành vi trộm cắp, Do đó cần có mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội sau này.
Về hình phạt bổ sung bằng tiền do bị cáo chưa có vợ, kinh tế phụ thuộc gia đình, công ăn việc làm không có nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98N3-1533 là tài sản của ông Nguyễn Văn T, ông T không biết việc Ch sử dụng chiếc xe mô tô này để đi trộm cắp. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho ông T;
Về số tài sản 02 lắc tay và 01 dây chuyền bằng bạc là của Ch mua lại ở cửa hàng của chị Th. Số tiền 500.000 đồng là của Ch đổi ở Phòng giao dịch Agribank chi nhánh Mỏ Trạng. Là tài sản hợp pháp của chị V, chị Th. Ngày 05/9/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị V số tiền 500.000 đồng và trả lại cho chị Th 02 lắc tay và 01 dây chuyền bằng bạc.
Đối với 01 chiếc điện thoại Masstel là của Ch dùng làm đèn pin để đi trộm cắp tài sản. Nay tịch thu tiêu hủy.
Đối với hành vi của Ch và Đ vào ngày 11/4/2020, Ch khai sau bẻ gãy tay nắm cửa, Ch sợ bị phát hiện và nhận thấy hành vi của mình là sai nên Ch không tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp nữa. Xét thấy hành vi của Ch và Đ thuộc trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, hơn nữa Ch không biết trong phòng có tài sản gì và chưa có ý định trộm cắp tài sản gì. Do vậy Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
Quá trình điều tra, chị Vũ Thị Th xác định chỉ mua của Ch 02 chiếc lắc tay bằng bạc, không mua của Ch 2 chiếc dây chuyền như Ch đã khai. Chị Th từ chối đối chất và giữ nguyên lời khai. Chị Th và anh Đinh Văn H đều không biết rõ số tài sản đã mua là do Ch trộm cắp mà có. Anh Đ không biết số tài sản Ch cho là do Ch trộm cắp nên không xử lý.
Về trách nhiệm d sự. Chị V, chị Thúy, anh Huy không yêu cầu bồi thường gì nên không đặt ra xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về Tội danh: Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn Ch phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về điều luật: Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
3. Về hình phạt: Xử phạt Nguyễn Văn Ch 8 (tám) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày tự nguyện hoặc bắt thi hành án.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
4. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 2, điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại Masstel, màu đen
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6.Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt án vắng mặt.
Bản án được thông qua tại phòng nghị án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Yên Thế; - T.H.A huyện Yên Thế; - Cơ quan điều tra, cơ quan THAHS công an huyện Yên Thế. - Cổng thông tin điện tử TAND tối cao. - Bị cáo; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. -Lưu VP, HS./. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đinh Thị Vân Anh |