vanban.org

Bản án 45/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 17/03/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/03/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Tuấn T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2020/HS-PT
Ngày: 17/3/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nhài

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Quế

Bà Dương Thị Liên

- Thư ký phiên tòa:Bà Lương Thị Thúy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Sơn, Kiểm sát viên.

Trong các ngày 16 và ngày 17 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 185/2019/HSPT ngày 19 tháng 12 năm 2019 do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 602/2019/HSST ngày 15/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

- Bị cáo có kháng cáo:

Hoàng Tuấn T, (tên gọi khác Hoàng Văn T), sinh năm 1963 tại tỉnh Thái Nguyên; Nơi đăng ký hô ̣ khẩu và chỗ ở: Tổ 07, phường CG, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; nghề nghiệp: Kinh doanh tự do; Trình độ văn hóa: 7/10; con ông Hoàng Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N; có vợ là Vũ Thị N1; có 02 con chung; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Bản án số 301/HSPT ngày 21/3/1991 Tòa án nhân dân tối cao xử phạt Hoàng Tuấn T 6 năm tù về tội: “Cố ý gây thương tích”; bị tạm giam từ ngày 19/3/2019 đến nay; có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo do bi ̣ cá o nhờ : Luật sư Lê Quang N3 và Luật sư Nguyễn Công Q - Văn phòng Luật sư AT, thuô ̣c Đoàn Luật sư tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt).

Luâ ̣t sư Nguyễn Công G – Văn phòng luâ ̣t sư DTG và cộng sự, thuô ̣c Đoàn luâ ̣t sư tinh Thả

́i Nguyên. (Có mặt)

Bị hại không khá ng cá o: Anh Trần Đức Đ, sinh năm 1986

Địa chỉ: Tổ 7, phường CG, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt).

Người làm chứng:

1. Anh Thạch Văn T2, sinh năm 1965. (Có mặt)

Địa chỉ: tổ 7, phường CG, thành phố TN, tỉnhThái Nguyên

2. Anh Trần Văn N2, sinh năm 1964. (Có mặt)

Địa chỉ: tổ 10, phường CG, thành phố TN, tỉnhThái Nguyên

3. Anh Vũ H, sinh năm 1979. (Có mặt)

Địa chỉ: tổ 8, phường CG, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên

4. Chị Hoàng Thị T3, sinh năm 1966. (Có mặt)

5. Ông Bùi Xuân P, sinh năm 1952. (Vắng mặt)

6. Bà Tô Thị T4, sinh năm 1965. (Vắng mặt)

7. Ông Phạm N4 T5, sinh năm 1963. (Vắng mặt)

8. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1964. Vắng mặt

9. Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1977. (Có mặt)

10. Anh Phạm Tú N3, sinh năm 1986. (Vắng mặt)

11. Anh Nguyễn Huy T, sinh năm 1989. (Cómặt)

12. Anh Hoàng Văn H2, sinh năm 1993. (Có mặt)

13. Chị Vũ Thị N1, sinh năm 1970. (Có mặt)

14. Anh Hoàng Mạnh D, sinh năm 2003. (Có mặt)

15. Ông Cao Văn B, sinh năm 1965. (Vắng mặt)

16. Ông Hoàng Văn T6, sinh năm 1960. (Vắng mặt)

17. Chị Hà Thị T7, sinh năm 1971. (Vắng mặt)

18. Chị Ngô Thị L2, sinh năm 1974. (Vắng mặt)

19. Anh Hoàng Cảnh Đ1, sinh năm 1989. (Vắng mặt)

Đều trú tại: Tổ 7, phường CG, TP TN, tỉnh Thái Nguyên.

20. Ông Hà Hữu N4, sinh năm 1985. (Vắng mă ̣t)

Địa chỉ: Tổ 19, phường CG, TP TN, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 15/05/2016, Hoàng Tuấn T đang ngồi chơi tại bàn uống nước kê ta ̣i hiên nhà anh Thạch Văn T2, tại tổ 7, phường CG, thành phố TN cùng với Trần Văn N2, Vũ H, đều ở phường CG, thành phố TN và chủ nhà Thạch Văn T2, thì anh Trần Đức Đ đi xe mô tô HONDA DREAM, BKS 20B1- 251.93 đến nhà anh Thạch Văn T2. Thấy mọi người đang uống nước anh Đ dựng xe mô tô tại sân rồi vào cùng uống nước. Khi thấy anh Đ đến, T nói: “Ê cu con mày đi đâu đấy”, Đ nói với T: “anh đừng nói thế, bố em chết lâu rồi, em chỉ có một bố thôi”. Giữa T và Đ đã xảy ra to tiếng, T chỉ tay vào mặt anh Đ, Đ dùng tay phải gạt tay T làm T ngã trượt khỏi ghế về phía sau. T liền đi ra phía đầu bàn uống nước cầm chiếc điếu cày bằng tre dài khoảng 1m, đường kính khoảng 4,8cm để trong chiếc xô nhựa giơ lên vụt về phía anh Đ, anh Đ cầm chiếc phích trong có nước nóng nhà anh T2 giơ lên đỡ, T đập 1 nhát trúng vào phích nước, làm nắp phích bật ra, nước nóng trong phích bắn trúng vào trán Đ. Đ đặt phích nước xuống túm giữ được chiếc điếu cày T đang cầm trên tay, giữa T và anh Đ giằng co, du đẩy nhau ra phía sân. Đ giằng được chiếc điếu, T chạy về phía cửa buồng nhà anh T2, Đ cầm chiếc điếu cày đuổi theo T vào trong buồng tầng 1 nhà anh T2. Thấy vậy anh T2 liền chạy theo can ngăn giật được chiếc điếu cày của Đ không cho hai người đánh nhau tại nhà mình thì T và Đ không đánh nhau nữa. T đi về nhà, nhà T cách nhà anh T 2 khoảng 30m. Còn Đ ngồi lại uống nước tại nhà T2.

Đ ngồi uống nước khoảng 5 phút thì lấy xe mô tô đi về, khi Đ đi ra khỏi cổng nhà anh T2 cách nhà anh T2 3,3m, cách nhà T 29,3m, thì Đ gặp chị Vũ Thị N1 và Hoàng Văn H2 là vợ và con trai của T. H2 bảo Đ dừng xe lại để nói chuyện, khi Đ dừng và xuống xe H2 nói: “Giữa Đ và bố tôi có việc gì xảy ra”, thì Đ nói với H2: “không có chuyện gì xảy ra chỉ có chuyện hiểu lầm thôi”, nói xong Đ quay lưng lại phía H2. Ngay lúc đó Đ nhìn thấy Hoàng Tuấn T chạy từ trong nhà T đi ra, hai tay cầm 2 con dao, trong đó tay phải T cầm một con dao loại dao phớ dài khoảng 50cm mũi dao vuông, không nhọn, bản rộng khoảng 5cm, tay trái cầm một con dao có một đầu nhọn dài khoảng 25cm, bản rộng khoảng 2cm kiểu lưỡi lê. T chạy đến tay phải cầm dao chém 01 nhát trúng đỉnh đầu phải, 01 nhát trúng vào mặt vùng má bên phải Đ, tay trái T cầm dao có đầu nhọn đâm 01 nhát trúng vào môi trên bên phải anh Đ. Đ ngã ngồi hai tay chống xuống đường thì T đâm tiếp 1 nhát trượt xuống vai trái của Đ. Lúc này, có nhiều người can ngăn đưa anh Đ đến Bê ̣nh viê ̣n Đa khoa Trung ương Thái Nguyên cấp cứu và điều trị từ ngày 15/5/2016 đến ngày 24/5/2016 thì ra viện.

Đối vớ i T sau khi gây thương tich cho anh Đ thi T vứt 02 con dao xuống

́

̀ đất rồi đi về nhà và bỏ đi đến ngày 16/5/2016 T đến bệnh viện An Phú khám, chụp XQ và tự mua thuốc điều trị.

Tại bệnh án số 956 của Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên ghi: Trần Đức Đ bị 01 vết thương rách vùng thái dương đỉnh phải KT = 05 cm bờ mép sắc gọn, lộ xương đỉnh phải; 01 vết thương vùng gò má phải KT= 7cm bờ sắc gọn; 01 vết thương môi trên dài 1cm bờ sắc gọn; 01 vết xây xát vai trái dài 10cm.

Tại bản Giám định Pháp y về thương tích số 155/TGT ngày 07/7/2016 của Trung tâm Pháp y tỉnh Thái Nguyên Kết luận: Vết thương rách da đầu, vết thương má phải. Hiện tại có sẹo vùng thái dương đỉnh phải màu nâu nhạt kích thước 6cm x 0,2cm, sẹo vùng má phải cong, lõm, còn vết các nốt chỉ khâu màu nâu nhạt kích thước 7cm x 0,1cm ảnh hưởng đến thẩm mỹ, môi trên bên phải có vết sẹo màu nâu nhạt KT dài 1cm x 0,1cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Đức Đ do thương tích gây nên hiện tại là: 14% (Mười bốn phần trăm). Áp dụng theo phương pháp cộng lùi.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Đức Đ yêu cầu Hoàng Tuấn T bồi thường thiệt hại sức khỏe theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng của vụ án: 02 con dao Cơ quan điều tra không thu hồi được; cơ quan điều tra thu giữ 01 chiếc điếu cày bằng tre; 01 gậy tre.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 602/2019/HSST ngày 15/11/2019 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên đã quyết định: Căn cứ khoản 3 Điều 7, điểm đ khoản 2 Điều 134, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự N2 2015; xử phạt Hoàng Tuấn T (Hoàng Văn T) 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội“Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam bị cáo 19/3/2019.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590, Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Hoàng Tuấn T (Hoàng Văn T) phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh Trần Đức Đ các khoản gồm: tiền thuốc, viện phí, ngày công không thu nhập, ngày công người trông nom trong thời gian nằm viện, tiền bồi dưỡng sức khỏe sau ra viện, tiền bồi thường tổn thất về tinh thần, tổng cộng 49.753.251 đồng.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết đi ̣nh về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 18/11/2019 Hoàng Tuấn T kháng cáo với nội dung kêu oan.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo Hoàng Tuấn T giữ nguyên nội dung kháng cáo kêu oan và cho rằng bi ̣ cáo dùng dao gây thương tích cho anh Đ là phòng vệ chínhđáng.

Phần kết luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tóm tắt nội dung vụ án, phân tích đánh giá tính chất vụ án, nguyên nhân, hành vi phạm tội, nhân thân và các tinh tiết tăng nă ̣ng giảm nhẹ trách nhiệm

̀

hình sự và các vấn đề liên quan đến kháng cáo của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo Hoàng Tuấn T tranh luận cho rằng lời khai của anh Đ và những người làm chứng khai là không đúng. Bị cáo bị Tòa án sơ thẩm kết tội oan.

Luật sư Lê Quang N3 và l uật sư Nguyễn Công G bào chữa cho bị cáo: Không nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, kết luận của đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát không khách quan, không có căn cứ pháp luật, với lý do: Trong vụ án này bị cáo T bị anh Đ dùng điếu cầy đánh gây thương tích 16% sức khỏe tại nhà anh T2, Đ cầm gậy xông vào nhà đánh đập vợ con bị cáo, buộc bị cáo phải dùng dao gây thương tích cho anh Đ 14% sức khỏe sự viê ̣c diễn ra liên tu ̣c là phòng vệ chính đáng. Tuy nhiên bản án sơ thẩm kết tội oan cho bị cáo. Quá trình điều tra vụ án có nhiều vi phạm về tố tụng, bản vẽ hung khí cán bộ điều tra vẽ theo mô tả của người làm chứng là vi phạm quy định của Bô ̣ luâ ̣t tố tụng hình sự. Biên bản sự việc được lập tại gia đình bị cáo, có nhiều gạch vỡ, biên bản khám nghiệm hiện trường 4 tháng sau mới lập. Lời khai của những người làm chứng được dàn dựng sắp đặt, không khách quan, lời khai của bị cáo,vợ con bị cáo là người chứng kiến sự việc không được xem xét. Lời khai của ông H, ông Tuấn, ông N2 và bị cáo đã được phản ánh rõ. Lờ i khai của ngườ i làm c hứ ng có nhiều mâu thuẫn. Vụ án đã được cấp sơ thẩm xét xử lần 1, phúc thẩm xét xử lần 1 hủy án để điều tra lại, tuy nhiên chưa đáp ứng được những nội dung mà bản án phúc thẩm đã nêu. Đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát cho rằng vì mâu thuẫn nhỏ nhặt là không đúng, căn cứ vào lời khai của Đ tại bút lục 115 có mâu thuẫn từ trước. Một số người làm chứng cho rằng anh Đ bị T chém vị trí ở cổng nhà ông T2, Đ chảy máu nhiều nhưng ở đó không có vết máu nào, trong khi đó vợ con bị cáo khai T chém gây thương tích cho anh Đ tại nhà bị cáo lại không xem xét, là quy chụp, không đúng bản chất. Ông H khai không chứng kiến sự việc nhưng tại phiên tòa ông H khai có mang ví da, đồng hồ, lắc bạc cho T ngay chiều hôm đó, có thấy T bị thương ở mặt. Khi xảy ra sự viê ̣c không có bà L1, anh Huy T, anh N3. Sự việc xảy ra tại nhà ông T2 thì lời khai của bi ̣ cáo phù hợp với lời khai của ông N2. Ông N4 là người lập biên bản sự việc khai có được gọi điê ̣n cho T và được T nói bị gẫy tay nhưng cơ quan điều tra không xem xét, không kết luận Thành bị thương 16% do đâu. Lời khai của bà N1, anh D, anh H2 phù hợp với nhau khi Đ cầm gậy chọc và dùng gạch đập vào mặt bị cáo thì bi ̣ cáo mới dùng dao chém. Bị cáo thừa nhận có dùng dao gây thương tích cho anh Đ nhưng đây là phòng vệ chính đáng.

T gây thương tích cho Đ không làm rõ động cơ, mục đích, không có căn cứ vững chắc T gây thương tích cho Đ ở đâu. Chiếc điếu cày, gâ ̣y tre không phải là vật chứng của vụ án nhưng vẫn được ghi trong cáo trạng, xử lý vâ ̣t chứ ng trong bản án. Bị cáo T kêu oan là có căn cứ, nội dung kêu oan về tội danh kết án, không kêu oan về hành vi, T thừa nhận có hành vi chém anh Đ nhưng hành vi này có dấu hiệu về tội phạm khác hoặc chỉ là hành vi vi phạm hành chính. Chưa làm rõ ai là người gây thương tích cho T, cơ chế nào gây thương tich, T bi ̣ gãy tay có dấu

́ hiê ̣u pha ̣m tô ̣i của ngườ i khác không.

Các luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét vụ án có lý có tình tránh làm oan ngườ i vô tô ̣i hoă ̣c bỏ lọt tội phạm , do việc điều tra không đáp ứng được những yêu cầu bản án phúc thẩm đã nêu đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra bổ sung lại.

Bị cáo T nhất trí với luâ ̣n cứ bào chữa của các luật sư, đề nghị xem xét viê ̣c bị cáo bị thương 16% không để lọt tội phạm, minh oan cho bi ̣ cáo.

Đại diện Viê ̣n kiểm sát tranh luận đối đáp: Quan điểm của luật sư và bị cáo thừa nhận bị cáo có hành vi gây thương tích cho anh Đ nhưng cho rằng hành vi đó là phòng vệ chính đáng. Căn cứ vào tất cả các tài liệu chứ ng cứ thu thâ ̣p được thể hiện trong hồ sơ vụ án và cáclờ i khai của nhân chứng cũng như lờ i khai của bị cáo thừa nhận , vớ i hành vi bi ̣ cáo gây thương tich cho anh Đ không thuô ̣c

́ trườ ng hợp phòng vê ̣ chinh đáng, đủ căn cứ kết luận bị cáo T phạm tội Cố ý gây

́ thương tích. Tất cả các vấn đề mà bản án phúc thẩm đã hủy để điều tra bổ sung cấp sơ thẩm đã điều tra làm rõ, không có cơ sở kết luận Đ gây thương tích cho T ở tay giám đi ̣nh 16% tại nhà anh T 2 vì có 3 nhân chứng có mặt ở đó, chỉ có anh N2 thay đổi lời khai, còn anh T2, anh H vẫn giữ nguyên lời khai. Vụ án này xác định sự viê ̣c di ễn ra hai giai đoạn, giai đoạn tại nhà anh T2 và giai đoạn khi bị cáo về nhà. Bị cáo kêu oan cho rằng hành vi gây thương tich cho

́ Đ 14% là phòng vệ chính đáng; bị cáo và vợ , con bi ̣ cáo khai Đ cầm gạch đập vào mặt bị cáo bị thương ở mặt, nhưng thương tich ở mặt bị cáo dẫn đến viê ̣c bi ̣

́ cáo gây thương tích cho anh Đ không có trong hồ sơ , chỉ có lời khai, giám đi ̣nh không có , giấy chứ ng nhâ ̣n thương tich không thể hiê ̣n T có thương tich ở mặt,

́

́ đủ cơ sở kết luâ ̣n hành vi của bi ̣ cáo pha ̣m tô ̣i Cố ý gây thương tích , không phải phòng vệ chính đáng. Luâ ̣t sư cho rằng nhân chứng sắp đặt là không có căn cứ. Việc điều tra viên vẽ con dao theo mô tả của người làm chứng, đã được điều tra làm rõ, viê ̣c ve hô ̣̃ không làm sai lê ̣ch hồ sơ vu ̣ án, không làm thay đổi bản chất của vụ án là không vi phạm. Về đĩa ghi âm đã được điều tra làm rõ. Lời khai của người làm chứng tại phiên tòa đã được làm rõ, lờ i khai của chi ̣ L1 cơ bản phù hợp vớ i lờ i khai ta ̣i cơ quan điều tra . Giữa bị cáo và Đ không có căn cứ mâu thuẫn từ trước. Biên bản sự việc lập tại gia đình bị cáo ghi nhâ ̣n theo lời khai của gia đình bị cáo, lúc đó bi ̣ cáo không có nhà, không có gậy tre, vết máu; nhưng có nhiều gạch vỡ ở đây có thể có trường hợp sau đó có nhóm người ném đá, bản án cấp sơ thẩm đã kiến nghị cơ quan điều tra xem xét. Cơ quan điều tra giải quyết tin báo, theo lời khai của nhân chứng xác định sự việc xảy ra xô xát tại đường không phải tại nhà bị cáo nên lập biên bản khám nghiệm hiện trường làm rõ. Luật sư cho rằng lời khai của người làm chứng T chém Đ ở đường không có vết máu, dao, thì hồ sơ thể hiện lúc đầu không biết sự việc xảy ra ở đâu. Anh H khai khi cầm ví cho bị cáo có thấy bị cáo có vết thâm ở mặt, lời khai này của H luôn thay đổi nên không có căn cứ , giấy chứ ng nhâ ̣n thương tich của T không thể

́ hiê ̣n có vết thương ở mă ̣t.

Lờ i khai của a nh H, anh T2 và lời khai ban đầu của anh N2 khai không có việc Đ gây thương tích cho T tại nhà anh T 2, nên không có căn cứ xác định Đ dùng điếu cày gây thương tích cho T 16%.

Tài liệu hồ sơ thể hiện vị trí T gây thương tích cho Đ ngoài đường gần cổng nhà anh T2, không có căn cứ xác định Đ cầm gâ ̣y cho ̣c vào ngườ i, đập gạch vào mặt bị cáo trước khi bị cáo chém gây thương tích cho anh Đ. Đại diện Viê ̣n kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm.

Bị cáo nói l ời sau cùng: Vụ án này đa xẽ ́t xử nhiều lần , bị cáo kêu oan , Công an thành phố Thái Nguyên cố tinh bênh vực Đ, bị cáo là người bị hại

̀

thành người có tội, minh oan cho bi ̣ cáo, không bỏ lo ̣t tô ̣i pha ̣m.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Hoàng Tuấn T làm trong hạn luật định được đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm.

.Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay b ị cáo Hoàng Tuấn T thừa nhận có được dùng dao gây thương tích cho anh Đ nhưng là hành vi phòng vệ chính đáng, cấp sơ thẩm quy kết bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là oan. Lời kêu oan của bị cáo là không có căn cứ bởi lẽ : Căn cứ vào lờ i khai của ngườ i bi ̣ hại, lờ i khai của những ngườ i làm chứ ng ta ̣i cơ quan điều tra và ta ̣i phiên tòa

sơ thẩm, phúc thẩm:

Anh Trần Đứ c Đ khai: Tôi không gây thương tich cho T ta ̣i nhà ông T 2.

́ Khi tôi đi xe máy từ nhà ông T 2 về không mang theo gâ ̣y tre nào, khi về qua cổng nhà ông T 2 cách khoảng1m thì gặp H 2 là con trai của T và chị N1 là vợ của T có hỏi về việc Đ và T có xảy ra viê ̣c gi . Tôi dựng xe máy nói không có

̀

chuyê ̣n gi chỉ là hiểu lầm thôi xong rồi, ngay lúc đó tôi ngoảnh la ̣i thì nhìn thấy

̀ T cha ̣y từ trong nhà ra tay phải cầm 1 con dao da ̣ng dao phớ bằng kim loa ̣i màu trắng mũi vuông , dài khoảng 50cm, tay trái cầm 01 con dao nho ̣n dài khoảng 25cm cha ̣y về phia tôi, tôi bỏ chạy thì H2 ôm la ̣i, tôi bảo H2 bỏ tôi ra nhưng H2

́ không buông ra… Tôi bi ̣ ông T chém 1 nhát trúng vào đ ỉnh đầu bên phải theo hướ ng từ trên xuống , 01 nhát trúng vào mặt vùng má bên phải bằng con dao phớ , tay trái T cầm dao có đầu nhọn đâm 01 nhát trúng vào môi bên phải. Do bi ̣ chém nên tôi ngã khụy xuống đường thì T dùng dao bằng tay trái đâm tiếp 1 nhát trượt xuống vai trái của tôi. Có anh Phạm Tú N 3 và Huy T can ngăn thì T buông con dao dài khoảng 25cm ra và rơi xuống đất…”.

Anh Phạm Tú N3 tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ

thẩm khai : “Khoảng 13h đến 14h tôi đi từ nhà đến đoạn đường đê Ba Đa đoạn nhà chú T2 sẹo thì thấy ông Hoàng Tuấn T là hàng xóm, nhà đối diện với nhà chú T2 đi bộ từ trong nhà chú T2 ra đến cổng. Tôi nhìn vào bên trong nhà chú T2 thấy có mấy người đang uống nước ở bàn ngoài hiên bếp . Tôi đi vào trong nhà chú T 2 để uống nướ c. Khi tới sân nhà chú T2 thì thấy Đ quay xe máy để đi về . Tôi hỏi Đ “mày đi về à” thì Đ trả lờ i “ừ tao về” . Cùng lúc đó tôi thấy chú N2 và chú T 2 đứ ng dâ ̣y còn mô ̣t ngườ i nữa là chú H đang đứ ngở ngoài vườ n. Khi đó tôi không uống nước mà quay xe đi về. Khi đi đến cổng nhà ông T2 ở trên đường đê Ba đa thì nhìn thấy H2 con trai ông T đang ôm Đ còn Đ đang đẩy H2 ra tại vị trí trên mặt đường đê Ba Đa trước cổng nhà ông T2. Lúc này, tôi thấy ông T hai tay cầm 02 con dao, tay phải cầm 01 con dao màu thép trắng, dài khoảng 50 cm, rộng khoảng 05 cm, tay trái cầm 01 con dao dài khoảng 20 cm, có lưỡi, mũi nhọn chạy từ hướng nhà ông T chạy sang đường đến chỗ H2 và Đ đang ôm nhau. Tôi thấy ông T dùng tay phải cầm dao đưa một đường từ trên xuống dưới trúng vào đầu Đ. Khi đó, Đ đứng cách vị trí tôi đứng khoảng 03 mét. Tôi thấy Đ đẩy ông T ra thì bị ông T dùng tay trái cầm dao nhọn đâm về phía má phải của Đ. Đồng thời khi đó tôi đã lao đến ôm ông T lại nên không để ý chiều hướng ông T đâm. Ông T nói “Thằng con nhà T5 mày bỏ tao ra”. Tôi nói “Thôi chú T không đánh nhau nữa vì toàn là hàng xóm” nhưng ông T dùng hai tay cầm dao hất tay tôi ra. Tôi sợ bị dao đâm nên buông ra. Lúc này có rất nhiều người can ngăn ông T, tôi thấy Đ đã ngã ra đường. Ông T bỏ đi đâu tôi không rõ, mọi người đưa Đ đi Bệnh viện.”

Chị Nguyễn Thị L1 khai tại cơ quan điều tra và tòa phiên tòa sơ thẩm : “Khoảng 13h30 phút ngày 15/5/2016 tôi điều khiển xe mô tô đi mua hàng về trên đường đê Ba đa, khi tôi đi đến gần cổng nhà ông Tha ̣ch Văn T2 thì tôi thấy có Trần Đức Đ đang đứng ngay trước cổng nhà ông T2, Đ nói chuyện với chị Vũ Thị N1 vợ anh Hoàng Tuấn T và cháu Hoàng Văn H2 là con của T…khoảng 1- 2 phút sau tôi thấy Hoàng Tuấn T chạy từ phía bên đường đối diện sang , trên tay ông T cầm 2 con dao, tay phải có 1 con dao da ̣ng dao phớ bằng kim loa ̣i dài khoảng 50cm, rô ̣ng 5cm, tay trái cầm 1 con dao nho ̣n dài khoảng 20cm. Ông T cầm dao lao về phia Đ thi có anh Pha ̣m Tú N 3 chạy ra can lại nhưng ông T vẫn

́

̀ giằng ra được. Ông T lao tớ i vi ̣ tri Đ thi H2 đang đứ ng sát Đ dùng tay ôm ngang

́

̀

ngườ i Đ la ̣i , ông T giơ dao lên chém Đ 3-4 nhát rất nhanh . Mọi người xung quanh lao vào can cả hai . Tôi thấy Đ nga xuỗ

́ng đất , trên mă ̣t và đầu có nhiều máu chảy ra, tôi và quần chúng nhân dân lấy áo , khăn bi ̣t vào chỗ chảy máu của Đ rồi go ̣i tắc xi đưa Đ đi viê ̣n, lúc này T đã bỏ đi . Sau đó tôi nhin sang cử a nhà

̀ ông T thấy bà N1 vợ ông T đang nằm ngất ở cử a, nên tôi cùng bà T7 đưa chi ̣ N1 vào nhà nằm nghỉ sau đó tôi ra về”. Tại phiên tòa phúc thẩm chị L1 khai sự viê ̣c xảy đa lâu nên không nhỡ

́ cu ̣ thể các chi tiết , chị L1 giữ nguyên lờ i khai ta ̣i cơ quan điều tra, khẳng đi ̣nh vi ̣ tri Thành gây thương tich cho Đ ta ̣i trướ c cổng nhà

́

́ ông T2.

Anh Nguyễn Huy T khai: “Tôi thấy ông T gây thương tich cho anh Đ. Ông T

́ sử du ̣ng 02con dao , 01 con dao nho ̣n dài khoảng 30cm, 01 con dao phớ dài khoảng 50cm, ông T dùng hai tay chém vào đầu và mă ̣ t anh Đ. Viê ̣c ông T gây thương tich cho anh Đ xảy ra ta ̣i ngay cổng nhà ông T 2. Tôi không thấy anh Đ

́ đánh ai, không thấy Đ gây thương tich cho T… ”

́

Chị Ngô Thị L2 tại cơ quan điều tra khai:… “Khoảng 14 giờ 00 phút khi tôi vào trong nhà thì thấy có tiếng hô “chết rồi, Đ bị chảy máu rồi”. Tôi chạy ra xem thì thấy Đ đang đứng sát cổng nhà tôi, trên tay không cầm gì, hai tay ôm hai bên má đang chảy máu. Khi đó có khoảng 10 người dân đang đứng xung quanh. Tôi nhìn thấy anh Hoàng Tuấn T đang bỏ chạy về phía nhà anh T cách vị trí Đ khoảng 30 mét, không có ai đuổi theo ông T. Tôi hỏi Đ thì Đ trả lời là bị ông T chém…”.

Anh Trần Văn N2 khai ta ̣i cơ quan điều tra: …“Vị trí mà Đ bị thương tích ở đầu và mặt ngày 15/5/2016 là tại mặt đường đập Ba Đa ngay thẳng lối vào cổng nhà ông T2, cách trụ cổng bên phải nhà ông T2 khoảng 05m. Tôi thấy khi Đ bị thương tích Đ vẫn tỉnh táo và gọi điện thoại cho ai đó, có 01 nam thanh niên cao khoảng 1,7 mét đang đứng bịt vết thương cho Đ. Cách vị trí Đ đứng khoảng 07m có chị N1, cháu H2 đang đứng xem cùng khoảng 4, 5 người khác tôi không biết là ai... Tôi không thay đổi gi về nô ̣i dung lờ i khai trướ c đây làm viê ̣c vớ i cơ

̀ quan Công an, toàn bộ nội dung tôi khai là tự nguyện, tôi không bị ai đánh đập, ép buộc gì”.Tại phiên tòa sơ thẩm , phúc thẩm ông N2 khai chi chử

́ ng kiến viê ̣c Đ đánh T ta ̣i nhà ông T2, còn sự việc sau ông N2 không chứ ng kiến.

Tại Biên bản xác định hiện trường xác định vị trí T chém Đ cách mép cổng nhà ông Tuấn 3,3 mét, cách nhà bị cáo Thành 29,3 mét.

Lời khai của người bị hại phù hợp với lời khai của người làm chứng , phù hợp với biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiê ̣n trườ ng và những tài liệu chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án về địa điểm, khoảng thời gian tiếp nối nhau khi xảy ra sự việc T dùng dao chém anh Đ. Còn đối với lời khai của bị cáo T khai trong quá trình điều tra...“Tôi về nói với con tôi là H2 “Thằng Đ nó đánh gãy tay bố rồi”. Ngay lúc đó tôi thấy Đ đi xe đến nhà tôi trên tay cầm 01 đoạn gậy tre dài 03 mét. H2 chạy ra can ngăn thì Đ khua khoắng và đánh H2, lúc này tôi đang ở trong nhà. Do không kiềm chế được nên tôi cầm con dao để thái thịt của nhà tôi ra sân dọa Đ để Đ về, nhưng Đ cầm gậy tre chọc vào tôi nhưng H2 can ngăn nên không trúng tôi. Đ liền vứt gậy tre nhặt gạch đá ở cạnh đường xông vào đập vào gò má bên trái của tôi. Tôi cầm dao bằng tay phải chém 02 nhát về phía Đ đang đứng đối diện với tôi nhưng không biết trúng đâu. Lúc này, có rất đông người can ngăn và có người giằng con dao trên tay tôi ra”;“…Khi Đ đến nhà tôi, Đ chưa đánh được tôi cái nào tôi chạy vào trong bếp lấy dao để tự vệ thì Đ chọc 2 đến 3 cái vào sườn phải của tôi. Tôi vừa cầm dao vừa túm giữ được gậy tre của Đ thì Đ buông gậy ra… Trước khi tôi dùng dao chém Đ thì H2 có can ngăn Đ nhưng không ôm giữ Đ”. Quá trình điều tra bị cáo có giao nộp cho cơ quan công an 01 chiếc gậy tre và khai đó là chiếc gậy tre của nhà anh T2 để làm đòn khiêng cây đào mà Đ lấy ở nhà anh T2 đến để đánh bi ̣ cáo.

Tại phiên tòa bị cáo khai: Sự việc diễn ra tại nhà anh Thạch Văn T2, do có mâu thuẫn từ trước, Trần Đức Đ dùng tay đấm vào mặt bị cáo làm bị cáo bị ngã, Đ dùng điếu cày bằng tre đánh vào mặt bị cáo giơ tay trái lên đỡ thì bị gãy xương cổ tay, xương bàn tay và ngón tay. Bị cáo chạy vào buồng nhà anh T2 thì Đ tiếp tục cầm điếu cày đuổi theo đánh vào sườn và vai của bị cáo có anh T2, anh Trần Văn N2 và anh Vũ H chứng kiến. Sau khi bị Đ đánh, bị cáo bỏ chạy về nhà, thì Đ đi xe máy, cầm theo một gậy tre dài 02 mét của nhà anh T2 đến sân nhà bị cáo, đâm vào người bị cáo, giữa bị cáo và vợ, con bi ̣ cáo là chị N1 và H2 giằng được chiếc gậy tre của Đ, Đ nhă ̣t ga ̣ch thi bi ̣ cáo lấy dao, Đ đập vào mặt bị

̀

cáo bị cáo bị thương ở m ặt, bị cáo cầm dao khua chém về phía Đ không biết trúng vào đâu. Chỉ có vợ con bị cáo chứng kiến ngoài ra không có ai. Bị cáo nhâ ̣n thương tich của Đ do bi ̣ cáo gây ra nhưng là phòng vê ̣ chinh đáng. Sau khi

́

́ bị đánh bị cáo đi đến nhà anh trai là Hoàng Văn T6, nhưng không có ai ở nhà, bị cáo sang nhà con trai là H2 thì nhìn thấy Đ gọi điện cho nhiều người đến đánh vợ con, đập phá chiếc loa trầm nhà bị cáo.

Anh Hoàng Văn H2 khai tại cơ quan điều tra : “Khoảng 13h40 phút ngày 15/5/2016, tôi đang ngủ trưa thì nghe tiếng ầm ầm ngoài cửa nhà tôi và thấy tiếng bố tôi là Hoàng Tuấn T chạy vào nhà và cầm theo 01 con dao trong nhà để chặt củi hàng ngày chạy ra cửa. Tôi không hiểu chuyện gì xảy ra liền chạy ra xem. Tôi thấy rất đông người ở cửa nhà tôi, tôi nhận ra một người đó là Trần Đức Đ. Đ cầm gậy tre dài khoảng 02 mét bằng hai tay đang đứng sân nhà tôi. Khi thấy tôi ra thì Đ cầm thanh tre giơ lên định đánh tôi thì tôi ôm Đ lại và bảo “Có chuyện gì thì chú cháu ngồi nói chuyện”. Lúc này, mọi người can ngăn, chú T2 sẹo nhà ở đối diện nhà tôi kéo Đ ra ngoài đườ ng. Lúc này, bố tôi mới ở trong nhà đi ra trên tay cầm dao dài khoảng 40 cm, có bản rộng 04 cm, có chuôi sắt màu trắng và lưỡi dao màu trắng. Ông T đứng ở cửa và cầm dao chỉ vào mặt Đ đang đứng ngoài đường và nói “Đ.mẹ mày có về không, muốn chết à”. Đ nói “Đ.mẹ thằng T T1 hôm nay bố mày chém chết”. Sau đó, Đ nhặt 02 cục đá ở rìa đường ném về phía ông T, ông T đứng ở cửa nhà và tránh được. Lúc này, ông T mới chạy ra sân và cầm dao dọa Đ bảo Đ đi về nhưng Đ lại tiếp tục cầm 02 cục gạch xỉ lao vào ông T. Đ cầm gạch đập liên tiếp về phía ông T và ông T bị đập trúng 01 cái vào vị trí thái dương bên phải. Tôi thấy bố tôi chém 01 cái về phía Đ và vào đầu Đ. Sau đó, Đ và ông T vẫn tiếp tục giằng co nhau, đánh nhau. Mọi người liền lao vào can ngăn và tách hai người ra. Ông T vào trong nhà còn Đ được mọi người đưa về nhà chú T2 sẹo”…

Chị Vũ Thị N1 tại cơ quan điều tra khai: “Khoảng 13h45phút ngày 15/5/2016, khi tôi đang ngủ thì nghe thấy tiếng chồng tôi là Hoàng Tuấn T kêu lên: “H2 ơi, bố bị thằng Đ đánh gãy tay rồi”. Sau đó tôi và H2 chạy ra sân nhà thì thấy Đ đứng ở ngoài sân quát tháo, trên tay của Đ cầm theo 01 đoạn gậy tre dài khoảng 2,5m. Tôi bảo H2 ra lôi Đ về nhưng Đ lại dùng gậy đánh vào người H2 và cố xông vào nhà tìm T để đánh. Tôi hô to để mọi người xung quanh can ngăn nhưng Đ vẫn cầm gậy không cho ai lại gần. Lúc này, anh T đi từ trong nhà ra, tay phải cầm 01 con dao phay dài khoảng 40cm để dọa và đuổi Đ về nhưng Đ không về mà lao vào dùng gậy đánh anh T. Thấy anh T bị đánh nên mọi người (Khoảng 10 người nhưng tôi không để ý là ai) can ngăn và giữ gậy của Đ, Đ tiếp tục nhặt đá ném về phía anh T và cầm 01 hòn gạch vỡ lao vào đập vào mặt anh T làm anh T bị chảy máu ở mặt. Vì bị đánh nên anh T đã dùng dao chém 02 nhát về phía Đ nhưng Đ vẫn lao vào vật lộn với anh T. Sau đó, nhiều người xung quanh can ngăn lôi Đ ra ngoài và đưa anh T vào nhà…”.

Tại phiên tòa chi ̣ N1, anh H2 khai sau khi Đ dùng gậy tre chọc vào bụng T, giữa T và N1, H2 giằng được chiếc gậy tre của Đ, Đ chạy ra gốc cây nhãn cầm 2 nử a viên ga ̣ch, Đ đâ ̣p vào mă ̣t T làm T chảy máu thì Th mới chạy vào tr ong bếp cầm 01 con dao chạy ra chém về phía Đ.

Anh Thạch Văn T2 quá trình điều tra và ta ̣i phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm khai: “Ngày 15/5/2016 tại nhà tôi chỉ có duy nhất 01 đoạn gậy tre dùng để làm gậy khiêng cây đào. Gậy dài khoảng 2,3m, đường kính khoảng 3,5cm. Đoạn gậy tre có buộc 01 đoạn dây vải màu trắng dài khoảng 02 mét. Ngày 15/5/2016, đoạn gậy tre nêu trên gia đình tôi cất trên gác nóc chuồng lợn đến ngày hôm nay gia đình tôi vẫn sử dụng đoạn gậy tre đó”. Ngày 09/3/2017 cơ quan điều tra cho anh T2 nhận diện chiếc gậy tre, anh T2 xác định chiếc gậy tre bị cáo T giao nộp không phải là đoạn gậy tre của nhà anh T2.

Như vậy, lời khai của bị cáo T, chị N1, anh H2 là vợ và con của bị cáo T mâu thuẫn vớ i nhau; chiếc gâ ̣y tre bi ̣ cáo giao nô ̣p cho cơ quan điều tra cho rằng Đ lấyở nhà anh T2 để chọc bị cáo tại nhà bị cáo, anh T2 xác đi ̣nh không phải của nhà anh T2; bị cáo và vợ, con bi ̣ cáo khai Đ dùng gạch đập vào mặt gây thương tích cho bị cáo ở mặt, tuy nhiên giấy chứ ng nhâ ̣n thương tich của bị cáo không

́ thể hiê ̣n có vết thương ở mă ̣t nên không có cơ sở xác đi ̣nh việc anh Đ bị T dùng dao chém tại nhà của bị cáo T và trước khi bị cáo dùng dao chém anh Đ thì bị cáo đã bị anh Đ dùng gậy tre tấn công, dùng gạch đập vào mặt bị cáo bị thương khiến bị cáo buộc phải dùng dao để tự vệ . Căn cứ vào lời khai của người bị hại và những người làm chứng gồm anh Pha ̣m Tú

N3, chị Nguyễn Thi ̣ L1, anh Nguyễn Huy T , chị Ngô Thị L2, anh Thạch Văn T2, biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiê ̣n trườ ng , hồ sơ bệnh án, kết quả giám định thương tật của anh Đ và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định : Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 15/5/2016, tại tổ 7 phườ ng CG, thành phố TN, Hoàng Tuấn T có hành vi dùng dao chém anh Trần Đứ c Đ, dẫn đến anh Đ bi ̣ thương ở đầu , mă ̣t được mo ̣i ngườ i đưa vào Bê ̣ nh viê ̣n Đa khoa Trung ương Thái Nguyên cấp cứ u và điều tri ̣ từ ngày 15/5/2016 đến ngày 24/5/2016, giám định tỷ lệ thương tật 14%. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Hoàng Tuấn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 là không oan và có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Đối với thương tích 16% của T, T khai bị anh Đ dùng điếu cày đánh vào tay trái tại bàn uống nước nhà ông Thạch Văn T2 Hô ̣i đồng xét xử xét thấy: Sự việc xô xát giữa T với anh Đ tại bàn uống nước nhà anh Thạch Văn T2, T khai có anh T2, anh N2, anh Vũ H là người chứng kiến. Tuy nhiên, anh T2 tại cơ quan điều tra và ta ̣i phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm khai: “Trong khi ngồi uống nước thì giữa Đ và T có xảy ra mâu thuẫn về lời ăn tiếng nói giao tiếp giữa hai bên. Đ có dùng tay vả về phía T làm T trượt khỏi ghế hướng ngược về sau. Lúc này, anh T đứng dậy, ra khỏi ghế đi qua phía sau anh N2 lấy 01 điếu cày bằng tre dùng hút thuốc lào để ở dưới cột bên hiên bếp bên tay phải anh N2 lên, thì Đ chạy ra giằng co cái điếu cày trên tay anh T nhưng chưa ai đánh được ai. T và Đa ̣t có đuổi nhau vào buồng nhà tôi nhưng Đ không đánh T .Tôi can ngăn hai bên và giằng điếu cày của hai người. Tôi bảo anh T về còn tôi bảo Đ ngồi lại uống nước. Đ có ngồi lại uống nước khoảng 05 phút rồi lấy xe máy ra về còn tôi thì vào rửa chuồng lợn”; “Thực tế khi T và Đ xảy ra xô xát thì tôi nhìn thấy giữa T và Đ chưa ai đánh ai chỉ du đẩy, giằng co nhau chiếc điếu cày”; “Sau khi tôi can ngăn Đ và T tại nhà tôi ngày 15/5/2016 thì tôi thấy T đi bô ̣ về, không có thương tích gì”.

Anh Trần Văn N2 ban đầu tại cơ quan điều tra khai: “Khi đang nói thì tôi thấy Đ giơ tay phải ra vả trái chiều vào phần mặt của T làm anh T ngã nghiêng về phía sau lưng tôi. Anh T chống tay đứng dậy vòng qua sau lưng tôi và với vào cái điếu cày mà anh T2 đang để ở phía đầu bàn đối diện với đầu bàn của tôi. Khi tôi đứng dậy thì thấy T và Đ đang giằng co nhau chiếc điếu cày ở đầu bàn nơi để chiếc điếu cày thì có anh T2 chủ nhà ra can ngăn hai bên không cho đánh nhau tại nhà anh T2 nhưng cả T và Đ giằng co nhau cái điếu theo hướng ra đầu bếp. Tôi nghĩ có anh T2 can ngăn rồi nên không đi theo can ngăn nữa. Khoảng 03 phút sau tôi thấy anh T đi từ cửa bếp ra chỗ Đ ngồi ban đầu, tôi thấy Đ cùng T2 cũng đi ra ngồi uống 1 chén nước thì Đ mới lấy xe máy ra về”;“Sự việc xảy ra tại nhà anh T2 tôi chỉ thấy Đ giơ tay ra vả vào mặt anh T còn sự việc tiếp theo tôi không rõ. Sự việc đánh nhau tại nhà ông T2 chỉ có tôi và anh T2 chứng kiến còn anh H đang đào giun ở gần chuồng lợn”.Tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm anh Trần Văn N2 thay đổi lời khai, cho rằng nhìn thấy Đ dùng điếu cày bằng tre đánh nhiều nhát vào đầu T, T giơ tay lên đỡ thì bị đánh vào tay, sự việc có anh T2, anh Vũ H là người chứng kiến. Anh N2 lý giải về sự thay đổi lời khai so với lời khai ban đầu là do chữ của điều tra viên không đọc được. Viê ̣c thay đổi lờ i khai của ông N2 không có cơ sở tin câ ̣y , phải khẳng đi ̣nh lờ i khai ban đầu của ông N2 là có căn cứ phù hợp với lời khai của ông T2 cũng như diễn biến sự viê ̣c.

Ngoài ra, Luật sư bào chữa cho bị cáo còn cung cấp tài liệu ghi âm cuộc nói chuyện giữa anh H, T, anh N2. Anh H công nhận là giọng nói của anh, nhưng những điều anh H nói chuyện với anh N2 và T là do T, N2 tự ý sắp đặt, không đúng với nội dung sự việc. Việc ghi âm cuộc nói chuyện của anh với N2, T anh không được biết. Anh H khẳng định không được nhìn thấy việc Đ và T xô xát tại nhà anh T2 như thế nào, vì lúc đó anh đang đào giun để câu cá ở ngoài vườn nhà anh T2. Lời khai của anh H phù hợp với lời khai của anh T2 và lời khai ban đầu của anh N2. Viê ̣c anh N2 thay đổi lờ i khai cho rằng Đ dùng điếu cày đánh g ãy tay T ta ̣i bàn uống nướ c có H chứ ng kiến là không có căn cứ . Quá trình điều tra anh H không thừa nhận cầm đồng hồ, ví, lắc bạc từ nhà anh T2 đưa cho T. Tại phiên tòa sơ thẩm anh H khai nhâ ̣n là có cầm đưa cho T sau khi sự việc T chém anh Đ thấy mă ̣t T tái xanh; tại phiên tòa phúc thẩm anh H khai thấy mă ̣t T bi ̣ thâm tím, lờ i khai này của anh H luôn thay đổi nên không co cơ sớ

̉ tin câ ̣y; anh H khai có dắt một chiếc xe mô tô của anh Đ từ cổng nhà anh T2 về nhà anh T2, không phải dắt từ nhà T. Quá trình điều tra ông Hà Hữu N 4 khai: Tôi có nói chuyện với T qua điện thoại yêu cầu T về làm viê ̣c thi T trả lờ i “ anh vừ a dùng dao chém Đ rồi , anh sợ trả thù

̀ không dám về ”, tôi không thấy T nói gẫy tay ; tại phiên tòa sơ thẩm ông N4 có thay đổi lờ i khai là khi điê ̣n thoa ̣i cho T thì T nói bị đánh g ẫy tay, ông N4 thay đổi lờ i khai so vớ i lờ i khai ta ̣i cơ quan điều tra nhưng không đưa r a được lý do vì sao thay đổi cho rằng lờ i khai đa lâu nên không nhỡ

́ . Sự việc xảy ra chiều ngày 15/5/2016 đến chiều tối ngày 16/5/2016 T đi khám, chụp X Quang tại Bệnh viện Đa khoa An Phú, T không điều trị tại bệnh viện mà tự điều trị bằng thuốc nam tại nhà. Việc T bị gẫy xương trụ trái, gẫy đầu xương đốt bàn 01 tay trái, gẫy xương đốt 02 ngón 5 bàn tay trái, được Trung tâm pháp y tinh Tháỉ Nguyên giám đi ̣nh kết luâ ̣n tỷ lê ̣ tổn thương cơ thể là 16%, quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra kết luâ ̣n không có căn cứ do Đ gây nên, không khở i tố, truy tố đối vớ i Đa ̣t; theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 298 của Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự “Tòa án xét

̀ xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát đa truy tỗ

́ và Tòa án đa quyết đi ̣̃

nh đưa vu ̣ án ra xét xử ”do đó không thuô ̣c thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về trách nhiê ̣m dân sự : Bản án sơ thẩm căn cứ vào quy định của pháp luâ ̣t buô ̣c bi ̣ cáo T phải có trách nhiê ̣m bồi thườ ng cho anh Trần Đứ c Đ các khoản tiền thuốc, viện phí, ngày công không thu nhập, ngày công người trông nom trong thời gian nằm viện, tiền bồi dưỡng sức khỏe sau ra viện, tiền bồi thường tổn thất về tinh thần, tổng cộng 49.753.251 đồng là phù hợp.

.Như phân tich trên , Hô ̣i đồng xét xử chấp nhâ ̣n đề nghị của đại diện

́ Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên. Đề nghi ̣ của bi ̣ cáo và luật sư bào chữa cho bị cáo là không có cơ sở.

. Đối vớ i đề nghi ̣ làm rõ viê ̣c Trần Đứ c Đ go ̣i điê ̣n cho Hoàng Cảnh Đ1 và một số người đem theo gậy sắt, dùng gạch, đá, đập hỏng 01 chiếc loa trầm gây thiệt hại 1.600.000đồng, đánh gây thương tích cho Vũ Thị N1, Hoàng Mạnh D theo lờ i khai của bị cáo T, chị Vũ Thị N1, anh Hoàng Văn H2, anh Hoàng Mạnh D. Căn cứ tài liệu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên đã thu thập và lời khai tại phiên tòa chưa đủ cơ sở kết luận anh Đ gọi điện cho Đ1 và những người khác gây thương tích cho chị N1, cháu D và gây thiệt hại tài sản cho gia đình T. Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiếp tục làm rõ đối tượng đập phá tài sản nhà T để xử lý theo quy định.

. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

. Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

́

QUYÊT ĐI ̣NH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự:Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Tuấn T . Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 602/2019/HSST ngày 15/11/2019 của Tòa án nhân dânthành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Tuấn T (Hoàng Văn T ) phạm tội “ Cố ý gây thương tích”

1. Áp dụng khoản 3 Điều 7; điểm đ khoản 2 Điều 134, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt: Hoàng Tuấn T (Hoàng Văn T) 42 (bốnmươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam bị cáo 19/3/2019.

Căn cứ vào Điều 347 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự Quyết đi ̣nh ta ̣m giam bi ̣ cáo

̀

45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590, Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Hoàng Tuấn T (Hoàng Văn T) phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh Trần Đức Đ các khoản gồm: tiền thuốc, viện phí, ngày công không thu nhập, ngày công người trông nom trong thời gian nằm viện, tiền bồi dưỡng sức khỏe sau ra viện, tiền bồi thường tổn thất về tinh thần, tổng cộng 49.753.251 đồng (Bốn mươi chin triê ̣u , bảy trăm lăm mươi ba nghìn , hai trăm lăm mươi một

́ đồng)

Kể từ ngày anh Trần Đứ c Đ có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không bồi thường khoản tiền nêu trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên, nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luâ ̣t dân sự ; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luâ ̣t dân sự.

3. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí . Bị cáo Hoàng Tuấn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm sung quỹ nhà nước.

4. Các quyết định khác của bản ánhình sự sơ thẩm số 609/2019/HSST ngày 15/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luâ ̣t kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ