vanban.org

Bản án 45/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 06/03/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/03/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Tuấn A.

Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số: 82/2016/HS-ST ngày 26/9/2016 của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh. Tuyên bố bị cáo Phạm Tuấn A phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phạm Tuấn A - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Tuấn A.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Nghị quyết số 100/2015/QH13 Phê duyệt chủ trương đầu tư các…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2020/HS-PT
Ngày: 06-3-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Bình;

Bà Võ Thị Hồng Mai.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Huy Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 13/2018/TLPT-HS ngày 18 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo Phạm Tuấn Anh do có Quyết định giám đốc thẩm số 59/2017/HS-GĐT ngày 05 tháng 12 năm 2017 đối với Bản án hình sự phúc thẩm số 182/2016/HS-PT ngày 15 tháng 12 năm 2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Bị cáo kháng cáo:

Phạm Tuấn A, sinh năm 1990, tại Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú hiện nay: Ấp D, xã B, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H, sinh năm 1966 và bà Đoàn Kim N, sinh năm 1965; có vợ tên Đỗ Quế S, sinh năm 1991 và có 02 người con, nhỏ sinh năm 2013, lớn sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.

- Bị hại: Bà Đinh Thị N (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

+ Ông Nguyễn Thanh N, sinh năm 1965 (chồng bị hại).

+ Anh Nguyễn Phương B, sinh năm 1989 (con bị hại).

+ Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1995 (con bị hại).

Cùng địa chỉ: Tổ 1, ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Tây Ninh

Người đại diện theo ủy quyền của anh B và anh T: Ông Nguyễn Thanh N (theo văn bản ủy quyền ngày 05/3/2018), có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ 15 phút ngày 05/6/2016, bị cáo Phạm Tuấn A điều khiển ô tô tải biển số 70C- 051.94 lưu thông theo hướng từ thành phố Tây Ninh về ngã tư L, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Đến khu vực ngã ba nơi tiếp giáp giữa quốc lộ 22B và đường 781 thuộc ấp P, xã B, huyện T, gặp đèn đỏ nên bị cáo cho xe dừng lại cách trụ đèn khoảng 05 mét. Khi đèn xanh bị cáo điều khiển xe ô tô tăng tốc vượt lên, rẽ phải hướng về ngã tư M, thành phố N, do không quan sát kỹ phía bên phải xe khi rẽ nên va chạm với xe mô tô biển số 70F1- 385.38 do bà Đinh Thị N điều khiển đi thẳng, hậu quả làm bà N tử vong tại chỗ, xe mô tô hư hỏng nặng.

Tại bản Kết luận giám định số 87/PY-2016 ngày 08/6/2016 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Bà Đinh Thị N tử vong do chấn thương vùng ngực, bụng làm dập rách phổi phải, trái dập rách cuốn tim, vỡ gan.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 82/2016/HS-ST ngày 26/9/2016 của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh, quyết định:

Tuyên bố bị cáo Phạm Tuấn A phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Xử phạt bị cáo Phạm Tuấn A 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn thụ hình được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 42 Bộ luật Hình sự năm 1999; Điều 610, Điều 623 Bộ luật Dân sự.

Anh Huỳnh Châu Q và anh Trần Thanh V có trách nhiệm tiếp tục bồi thường cho gia đình người bị hại do ông Nguyễn Thanh N làm đại diện số tiền 60.000.000 đồng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 06/10/2016 đại diện của bị hại - ông Nguyễn Thanh N kháng cáo yêu cầu tăng mức bồi thường với tổng số tiền 84.540.000 đồng.

Ngày 11/10/2016 bị cáo Phạm Tuấn A có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại Bản án Hình sự phúc thẩm số: 182/2016/HS-PT ngày 15/12/2016 của Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh, quyết định:

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Tuấn A.

Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Thanh N.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 82/2016/HS-ST ngày 26/9/2016 của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh.

Tuyên bố bị cáo Phạm Tuấn A phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1 Điều 46, Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Xử phạt bị cáo Phạm Tuấn A 01 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Về biện pháp tư pháp: Anh Huỳnh Châu Q và anh Trần Thanh V có trách nhiệm bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 70.000.000 đồng.

Tại Quyết định Giám đốc thẩm số: 59/2017/HS-GĐT ngày 05/12/2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: Hủy một phần Bản án hình sự phúc thẩm số 182/2016/HSPT ngày 15/12/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh về phần cho hưởng án treo đối với bị cáo Phạm Tuấn A để xét xử phúc thẩm lại, buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù.

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh nhận thấy ngày 18/01/2018 Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh có Quyết định rút ngắn thời gian thử thách của án treo số 01/2018/QĐ-TA đối với bị cáo Phạm Tuấn A trong khi trước đó ngày 05/12/2017 Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã có Quyết định giám đốc thẩm số 59/2017/HS-GĐT. Do đó, ngày 02/8/2018, Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh có kiến nghị xem xét kháng nghị tái thẩm số 55/TA/KN-TT đối với Quyết định rút ngắn thời gian thử thách án treo số 01/2018/QĐ-TA của Tòa án nhân dân huyện T.

Ngày 13/5/2019, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định kháng nghị tái thẩm số: 05/QĐ-VC3-V1 kháng nghị Quyết định rút ngắn thời gian thử thách của án treo số: 01/2018/QĐ-TA của Tòa án nhân dân huyện T; đề nghị Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử tái thẩm theo hướng hủy Quyết định nêu trên.

Ngày 08/8/2019, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định số 38/2019/HS-TT hủy Quyết định rút ngắn thời gian thử thách của án treo số 01/2018/QĐ-TA của Tòa án nhân dân huyện T.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, xin được hưởng án treo vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị: Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo cho bị cáo được hưởng án treo, sửa bản án sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo cho bị cáo được hưởng án treo; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và cung cấp các chứng từ thể hiện đã bồi thường thiệt hại xong cho gia đình bị hại.

Về điều luật áp dụng: Khung hình phạt về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” quy định tại khoản 1 Điều 202 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) là từ 06 tháng đến 05 năm tù nhẹ hơn khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là từ 01 năm đến 05 năm tù. Do hành vi phạm tội xảy ra vào ngày 05/6/2016 là thời điểm Bộ luật Hình sự năm 1999 có hiệu lực nên áp dụng khoản 3 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015, Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 thì điều khoản áp dụng tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” đối với bị cáo Phạm Tuấn A trong vụ án này là khoản 1 Điều 202 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009), các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo áp dụng theo Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào khoảng 07 giờ 15 phút ngày 05/6/2016, bị cáo Phạm Tuấn A đã điều khiển xe ô tô tải biển số 70C- 051.94 tại khu vực ngã ba đèn đỏ, khi có tín hiệu đèn xanh bị cáo điều khiển xe ô tô tăng tốc vượt lên, rẽ phải hướng về ngã tư M, thành phố N, do không quan sát kỹ nên bị cáo đã va chạm với xe mô tô biển số 70F1- 385.38 do bà Đinh Thị N điều khiển đi thẳng, hậu quả làm bà N tử vong tại chỗ. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 202 của Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tích cực tác động bị đơn dân sự, phối hợp với Công ty Bảo hiểm bồi thường xong số tiền 70.000.000 đồng cho gia đình bị hại và phía gia đình bị hại có đơn xin bãi nại, xin cho bị cáo được hưởng án treo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo.

Do đó, cần chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, giám đốc thẩm đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Tuấn A.

Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số: 82/2016/HS-ST ngày 26/9/2016 của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh.

Tuyên bố bị cáo Phạm Tuấn A phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Áp dụng khoản 1 Điều 202 của Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Phạm Tuấn A 01 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm tính từ ngày 15/12/2016, ghi nhận bị cáo đã chấp hành án từ ngày 15/12/2016 đến ngày 05/12/2017, bị cáo còn phải tiếp tục chấp hành thời gian thử thách còn lại tính từ ngày 06/3/2020.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Tây Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, bị cáo Phạm Tuấn A không phải chịu.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, không bị giám đốc thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ