vanban.org

Bản án 45/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 3 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146 và Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 3 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm…

[2] Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn T. Ông Nguyễn Văn T được ly hôn với bà Hồ Thị H. [3] Về con chung: Giao cho ông T được tiếp tục nuôi dưỡng và giáo dục các con chung: Nguyễn Hồ Quốc A, sinh ngày 28/5/2003 và Nguyễn Hồ Thảo N, sinh ngày 13/5/2011 đến khi trưởng thành; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn T - Hồ Thị H"
  • Tòa quyết gì? [1] Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 3 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146 và Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 3 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm…
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY PHONG
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 30/9/2020
V/v “Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG -TỈNH BÌNH THUẬN

-Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lý văn Lấy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Trọng Di

2. Ông Phạm Lê Thụy

-Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Văn Hồng Lễ - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Có - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 135/2020/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2020 về việc: “Ly hôn, nuôi con chung ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 35/2020/QĐST- HNGĐ ngày 14 tháng 9 năm 2020; giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T – sinh năm 1977; Địa chỉ: xóm 6, thôn 2, xã H, huyện P, tỉnh Bình Thuận;

2. Bị đơn: Bà Hồ Thị H – sinh năm 1977; Địa chỉ: xóm 6, thôn 2, xã H, huyện P, tỉnh Bình Thuận;

( Có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn ngày 28/4/2020 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn Nguyễn Văn T trình bày: ông và bà Hồ Thị H tự nguyên xác lập quan hệ vợ chồng năm 1999 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu thương yêu nhau, hai bên gia đình có tổ chức lễ cưới hỏi, vợ chồng ông có đến UBND xã H để đăng ký kết hôn (theo giấy chứng nhận kết hôn số 12, quyển số: 01, ngày 22/7/1999).

Sau khi xác lập quan hệ, vợ chồng ông sống tại nhà cha mẹ ông. Trong cuộc sống vợ

chồng ông thường xuyên bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, nên dẫn đến thường xuyên cải vả, trong lúc cải vả còn xúc phạm đến danh dự của nhau, đã nhiều lần ông cố nhường nhịn, bỏ qua để cho gia đình hạnh phúc nhưng khi ông càng cố gắng thì càng không thể đem lại hạnh phúc có khi càng trầm trọng hơn. Đến năm 2017 bà Hường gây nợ rồi bỏ nhà đi cho đến nay. Từ đó, dẫn đến ly thân không ai quan tâm đến ai nữa, mạnh ai nấy ở và cũng không có hướng trở về đoàn tụ.

Bản thân ông nhận thấy cuộc sống chung không hạnh phúc, hôn nhân không đạt mục đích nên tôi quyết định ly hôn . Mong Tòa xem xét theo nguyện vọng của tôi.

Về con chung: ông và bà Hồ Thị H có 02 con chung là Nguyễn Hồ Quốc A, sinh ngày 28/5/2003 và Nguyễn Hồ Thảo N, sinh ngày 13/5/2011, hiện đang ở với ông T. Ông T yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có

Bị đơn bà Hồ Thị H đã được Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong liên hệ nhiều lần đến Tòa để làm việc nhưng bà không đến Tòa, cho nên Tòa án không ghi được lời khai của bà H.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện P phát biểu ý kiến như sau:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán

đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử

- Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án:

Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn sự đã thực hiện đúng Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn không thực hiện đúng Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng không đến Tòa căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử vắng mặt bị đơn.

-Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 3 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146 và Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 3 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn T. Ông Nguyễn Văn T được ly hôn với bà Hồ Thị H.

- Về con chung: Giao cho ông T được tiếp tục nuôi dưỡng và giáo dục các con chung: Nguyễn Hồ Quốc A, sinh ngày 28/5/2003 và Nguyễn Hồ Thảo N, sinh ngày 13/5/2011 đến khi trưởng thành, ông T không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con.

- Về án phí: Ông Nguyễn Văn T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Quá trình, giải quyết vụ án, bà Hồ Thị H đã được Tòa án liên hệ nhiều lần đến Tòa để làm việc nhưng bà không đến Tòa. Tòa án đã xác định địa chỉ của bà đúng theo địa chỉ của nguyên đơn cung cấp và tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng đúng theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 172; khoản 3, khoản 5 Điều 177 và Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự cho bà H, do bà H vắng mặt không có lý do đến lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.

Về nội dung vụ án: Hôn nhân giữa ông Nguyễn Văn T và bà Hồ Thị H được xác lập là hợp pháp, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Bình Thuận. Quá trình chung sống do bà H gây nợ, không có trách nhiệm với chồng con, bất đồng quan điểm sống, bà H đã tự bỏ đi khỏi địa phương làm ăn xa, không chăm lo đời sống gia đình con cái và vợ chồng đã ly thân nhau từ năm 2017 cho đến nay, con cái do một mình ông T chăm lo. Ông không còn tình cảm với bà H nữa nên kiên quyết xin được ly hôn với bà Hồ Thị H

Bà H không hợp tác khi Tòa mời làm việc, bà có biết ông T làm đơn ly hôn bà nhưng bà bỏ mặc không quan tâm gì đến ý kiến của ông T hay quyền lợi của mình, thực tế ông T và bà H đã ly thân nhau một thời gian dài, không ai quan tâm đến ai và vợ chồng không thể hàn gắn được, bà H đã vi phạm nghĩa vụ đối với con chung. Chứng tỏ, cuộc sống vợ chồng ông T và bà H đã thực sự đỗ vỡ, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên HĐXX căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho ông T được ly hôn với bà H.

Về con chung: Ông và bà H có 02 đứa Nguyễn Hồ Quốc A và Nguyễn Hồ Thảo N, hiện đang ở với ông, ông yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng các con. Xét thấy, hiện ông T là người trực tiếp nuôi con từ khi ông T và bà H ly thân nhau, bà H không có nghĩa vụ đối với con cái, nay ông xin tiếp tục nuôi con và xin cam đoan sẽ lo cho các con một sống đầy đủ về mọi mặt cả thể chất lẫn tinh thần và nguyện vọng các con cũng đồng ý với ông, vì vậy giao các con chung cho ông T nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp hơn.

Về cấp dưỡng: Ông T không yêu cầu bà H phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung: không có, nên không xem xét giải quyết;

Về nợ chung: Không có.

Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án nên ông T phải chịu án phí theo quy định.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 3 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146 và Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 3 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án.

[2] Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn T. Ông Nguyễn Văn T được ly hôn với bà Hồ Thị H.

[3] Về con chung: Giao cho ông T được tiếp tục nuôi dưỡng và giáo dục các con chung: Nguyễn Hồ Quốc A, sinh ngày 28/5/2003 và Nguyễn Hồ Thảo N, sinh ngày 13/5/2011 đến khi trưởng thành;

Ông T không được cản trở bà H việc trông nom, chăm sóc và giáo dục con chung.

[4] Về án phí: ông Nguyễn Văn T phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc giải quyết ly hôn. Ông T đã 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại biên lai thu số 0006833 ngày 14/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong, ông T đã nộp đủ án phí.

[5] Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ