vanban.org

Bản án 45/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận chị Trần Ngọc H và anh Nguyễn Văn B là vợ chồng.

Về con chung: Tiếp tục giao các cháu Nguyễn Quốc H, sinh ngày 05/9/2014 cho anh Nguyễn Văn B được trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản. Về án phí: Chị Trần Ngọc H phải nộp số tiền 300.000 đồng; ngày 10/02/2020 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận chị Trần Ngọc H và anh Nguyễn Văn B là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2020/HNGĐ-ST
Ngày 28-02-2020
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Vũ Bằng

2. Ông Hồ Quang Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thêu - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 28 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 96/2020/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Ngọc H, sinh năm 1993 (Xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp 5, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1984 (Xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau

1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 06/02/2020 và biên bản hòa giải ngày 27/02/2020, nguyên đơn chị Trần Ngọc H trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn B tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2013, hôn nhân tự nguyện nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định. Nguyên nhân dẫn đến ly hôn là trong thời gian chung sống, vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm, thường hay cải nhau, anh B không chăm lo cho gia đình, chị và anh B đã sống ly thân hơn 01 năm nay. Chị xét thấy hôn nhân không hạnh phúc, tỉnh cảm vợ chồng không thể hàn gắn được. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh B.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống có 01 người con tên Nguyễn Quốc H, sinh ngày 05/9/2014. Hiện cháu đang sống với anh B. Khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Không yêu cầu anh B cấp dưỡng.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị xác định không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Tại biên bản hòa giải ngày 27/02/2020, anh Nguyễn Văn B trình bày:

- Về hôn nhân: Anh thống nhất như trình bày của chị H. Anh và chị H sống chung như vợ chồng từ năm 2013, nhưng không có đăng ký thủ tục kết hôn. Về mâu thuẫn dẫn đến ly hôn đúng như chị H trình bày. Anh và chị H đã không còn sống chung với nhau hơn 01 năm nay. Anh và chị H không thể hàn gắn lại được nên đồng ý ly hôn với chị H để đảm bảo cho cuộc sống.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống có 01 người con tên Nguyễn Quốc H, sinh ngày 05/9/2014. Hiện cháu đang sống với anh đúng như chị H trình bày. Anh không đồng ý giao cháu H cho chị H trực tiếp nuôi. Do từ trước đến nay cháu H sống chung với anh.

- Về tài sản chung và nợ: Thống nhất ý kiến trình bày của chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên hòa giải chị H đồng ý giao cháu Nguyễn Quốc H cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng. Anh B không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Do các đương sự hiện đang đi làm ở xa nên yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn anh Nguyễn Văn B có nơi cư trú tại ấp Chủ Mía, xã Khánh Hải, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Chị Trần Ngọc H khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với anh Nguyễn Văn B tranh chấp về nuôi con chung. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Ly hôn, tranh chấp nuôi con" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Chị H là người khởi kiện nên xác định tư cách đương sự chị H là nguyên đơn, anh B là bị đơn được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Chị H và anh B xin vắng mặt. Căn cứ theo khoản 1 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Ngọc H và anh Nguyễn Văn B xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2013, hôn nhân tự nguyện. Tuy có đủ điều kiện kết hôn nhưng chị và anh không đăng ký kết hôn theo luật định. Quá trình chung sống vợ chồng giữa chị H và anh B phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, cuộc sống không hòa hợp, không còn tình cảm thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau, chị và anh B đã không còn sống chung với nhau hơn 01 năm nay. Chị và anh B đã vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Xét, mâu thuẫn giữa chị H và anh B là thực tế có xảy ra; đồng thời hôn nhân có vi phạm về mặt hình thức nên không được công nhận là vợ chồng phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 9; Điều 15; khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho Huyền được ly hôn với anh B.

Về con chung: Chị H và anh B có 01 người con tên Nguyễn Quốc H, sinh ngày 09/5/2014 đang sống chung với anh B. Khi ly hôn chị đồng ý giao cháu H cho anh B được tiếp tục nuôi dưỡng, không đặt ra việc cấp dưỡng.

Xét, con chung tên Nguyễn Quốc H, sinh ngày 05/9/2014. Hiện nay cháu H đang sống chung với anh B, gần gủi với anh B, ổn định về thời gian, phát triển về mọi mặt. Tại phiên hòa giải chị H đồng ý giao cháu H cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tiếp tục giao cháu H cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.

Về cấp dưỡng: Chị H và anh B không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về tài sản chung và nợ: Chị H và anh B xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 3 Điều 68, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9; Điều 51; khoản 2 Điều 53; Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Về hôn nhân: Không công nhận chị Trần Ngọc H và anh Nguyễn Văn B là vợ chồng.

- Về con chung: Tiếp tục giao các cháu Nguyễn Quốc H, sinh ngày 05/9/2014 cho anh Nguyễn Văn B được trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.

2. Về án phí: Chị Trần Ngọc H phải nộp số tiền 300.000 đồng; ngày 10/02/2020 chị H đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003230 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, nay được chuyển thu án phí.

3. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ