vanban.org

Bản án 45/2019/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 03/04/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 03/04/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí: Bị cáo Lê Kim P phải nộp 200.

Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Kim P và đồng phạm - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
  • Tòa quyết gì? Về án phí: Bị cáo Lê Kim P phải nộp 200.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 45/2019/HSPT
Ngày: 3-4-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Đường

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Hữu Đăng Thanh

Bà Bùi Thị Nghĩa

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Mỹ Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhơn – Kiểm sát viên

Ngày 03 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 28/2019/TLPT-HS ngày 22 tháng 01 năm 2019 do có kháng cáo của bị cáo Lê Kim P (tên gọi khác: Cu em) đối với bản án Hình sự sơ thẩm số 51/2018/HSST ngày 08 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Khánh Hòa. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2019/QĐXXPT-HS ngày 26 tháng 02 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

Bị cáo có kháng cáo:

Lê Kim P (tên gọi khác: Cu em), sinh năm 1994 tại huyện D, tỉnh Khánh Hòa; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn P, xã A, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Con ông Lê Kim  (sinh năm 1965) và bà Nguyễn Thị T (sinh năm 1966); Có vợ là Huỳnh Sanh Cẩm N (sinh năm 1991); Tiền án,tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 29/7/2017, Đinh Trọng A và Lê Kim P cùng nhau đến chợ Thành mua đồ, đến khu vực bán gia cầm thì gặp Dương Duy T. Tứ nghĩ A và P đến chợ Thành để gây sự, đánh nhau nên dùng lời lẽ gây hấn, dùng rựa và dao khiêu khích A và P. Thấy T cầm hung khí, P điều khiển xe mô tô BKS 79D1-104.19 chở A về nhà (thôn P, xã A, huyện D). Trên đường đi, A rủ P lấy hung khí quay lại chợ Thành để tìm đánh T, P đồng ý. Về đến nhà, A lấy một cây mã tấu giấu ở gần nhà mang theo, P điều khiển xe chở A đi đến khu vực bán gia cầm ở chợ Thành tìm T. A cầm mã tấu chạy vào chợ, P để xe ở ngoài rồi đi theo sau A. Thấy T đang ngồi ở một sạp hàng trống, A cầm mã tấu bằng tay phải chém T từ trên xuống, T đưa tay phải lên đỡ, A chém trúng lòng bàn tay phải của T, T tiếp tục chạy, A không đuổi theo nữa mà quay lại gặp P rồi cùng về nhà.

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 235/TgT ngày 31/10/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Dương Duy T hiện tại là 16%.

Theo lời khai của Dương Duy T, ngày 29/7/2017 ngoài Đinh Trọng A và Lê Kim P còn có hai đối tượng tham gia gây thương tích cho T là Nguyễn Anh T1 và Cu M (Không xác định nhân thân, lai lịch). Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, xác minh, không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hai đối tượng này.

Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2018/HSST ngày 08/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Khánh Hòa đã: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 53 của Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Lê Kim P (Cu em) 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại.

Ngày 19/11/2018 bị cáo Lê Kim P có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Kim P vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Trong vụ án, bị cáo Đinh Trọng A không có kháng cáo, không bị kháng nghị.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa thực hành quyền công tố phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Kim P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội Đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục: Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định là hợp lệ, nên cần được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Kim P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả thẩm vấn công khai tại các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm. Như vậy, đủ cơ sở kết luận cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ Khoản 2, Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của công dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Xem xét mức độ hành vi phạm tội của bị cáo P trong vụ án này, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy, bị cáo Lê Kim P đóng vai trò là đồng phạm giúp sức cho bị cáo Đinh Trọng A gây thương tích cho bị hại. Do đó, mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng là tương xứng với tính chất mức độ và hậu quả hành vi mà bị cáo gây ra.

Xét nội dung kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải quy định tại các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999 cũng như xem xét vai trò của bị cáo trong đồng phạm để áp dụng quy định tại Điều 53 Bộ luật hình sự 1999 xử phạt bị cáo Lê Kim P 02 (hai) năm tù là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Kim P không đưa ra được tình tiết mới do đó không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên nội dung bản án sơ thẩm.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Kim P, giữ nguyên hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm số 51/2018/HSST ngày 08/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Khánh Hòa.

2. Áp dụng điểm điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015(dẫn chiếu điểm a, khoản 1); điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 53 của Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Lê Kim P (Cu em) 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

3.Về án phí: Bị cáo Lê Kim P phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

4.Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ