vanban.org

Bản án 45/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 05/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố các bị cáo Trần Hiếu Ng và Nguyễn văn Sam M đồng phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.

Bị cáo Trần Hiếu Ng 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 22/5/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố các bị cáo Trần Hiếu Ng và Nguyễn văn Sam M đồng phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2019/HS-ST
Ngày: 05-11-2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NG VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- Với thành phần Hội đồng xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Hùng Cường.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Thanh Hải

2. Ông Huỳnh Ngọc Trứ

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhàn, là cán bộ Tòa án nhân thị xã Cai Lậy.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trân Quốc Vương, Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 44/2019/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2019. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2019/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2019, đối với các bị cáo.

1/ Trần Hiếu Ng, sinh ngày 13/8/1997, tại Tiền Giang; Chứng minh nhân dân số: 312XXXXXX; Nơi cư trú: ấp P xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: Lớp 7/12; Dân tộc: Kinh; Giớ tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn D, sinh năm 1958 và bà Võ Thị Tuyết N, sinh năm 1963; Bị cáo chưa có vợ; Tiền án: không; Tiền sự: + Vào ngày 15/8/2017 bị Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 15/7/2018; + Ngày 11/12/2018 bị Ủy ban nhân dân xã Long Khánh, thị xã Cai Lậy ra Quyết định số 1327/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày 11/12/2018; Bị bắt tạm giam từ ngày 22/5/2019 đến nay. ( Có mặt )

2/ Nguyễn văn Sam M, sinh ngày 10/5/1997, tại Tiền Giang; Chứng minh nhân dân số: 312YYYYYY; Nơi cư trú: ấp P xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: Lớp 7/12; Dân tộc: Kinh; Giớ tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1973 và bà Cù Thị H, sinh năm 1973; Bị cáo chưa có vợ; Tiền án: không; Tiền sự: không; Bị bắt tạm giam từ ngày 22/5/2019 đến nay. (Có mặt )

* Người bị hại:

1/Nguyễn Thị Huỳnh L, sinh năm 1972; Địa chỉ: ấp P, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. (Có mặt)

2/Lê Văn T, sinh năm 1973; Địa chỉ: ấp P, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. (Có mặt)

* Người có quyền lợi Ng vụ liên quan:

1/Nguyễn Văn T, sinh năm 1973; Địa chỉ: ấp P, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. (Có mặt)

2/Trần Văn D, sinh năm 1958; Địa chỉ: ấp P, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. (Có mặt)

3/Lê Minh H, sinh ngày 16/01/2002 Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Huỳnh L, sinh năm 1972; Địa chỉ: ấp P, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. (Có mặt)

* Người làm chứng:

1/ Lê Thị S, sinh năm 1968; Địa chỉ: ấp P, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

(Vắng mặt)

2/ Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1997; Địa chỉ: ấp P, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền

Giang. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 31/12/2018 sau khi đã có uống rượu Lê Minh H và Trần Hiếu Ng xảy ra mâu thuẫn cự cãi dẫn đến đánh nhau, nhưng không gây thương tích, sau đó được mọi người can ngăn nên cả hai bỏ ra về. Trên đường về, Ng chuẩn bị một con dao bấm dài khoảng 20cm, lưỡi và cán dao bằng kim loại màu đen với ý định tìm H để đánh. Ng điện thoại cho Nguyễn Văn Sam M ngụ cùng ấp kể lại sự việc, sau đó M cùng Ng điều khiển xe mô tô đến trước đường đan vào nhà H rồi đậu xe tại đây, cả hai đi bộ vào tìm H. Khi đi ngang nhà bà Lê Thị S nằm cạnh nhà H thì thấy H trong nhà bà S, M kêu H ra nói chuyện nhưng H không ra, M cầm nón bảo hiểm chạy vào nhà bà Sen đánh H, H bỏ chạy ra sau nhà, Ng cầm dao bấm chạy vào nhưng bị bà Nguyễn Thị Huỳnh L là mẹ ruột của H cản lại nên Ng không vào được. Lúc này M và Ng bỏ đi ra đường đan, M nhìn thấy có một con dao dài khoảng 40cm, lưỡi dao bằng kim loại, cán dao bằng gỗ nên nhặt cầm trên tay tiếp tục đi vào nhà tìm H thì bị Nguyễn Thị Thúy H kéo lại, H la lớn “H ơi chạy đi” ông Lê Văn T là cha ruột của H tay cầm đoạn gỗ dài khoảng 1,2 mét đi ra, Ng đi về hướng ông T thì bị ông T dùng cây đánh làm Ng té ngã xuống đất, Ng lấy dao bấm trong người ra đâm qua lại trúng ông T nhiều cái và M cũng cầm dao xông vào cùng Ng chém ông T, do bị thương ông T buông đoạn cây xuống đất và chạy vào nhà bà S, lúc này bà Nguyễn Thị Huỳnh L chạy đến nhặt đoạn cây này quơ về hướng M và Ng thì M cầm dao chém trúng bà L nhiều cái gây thương tích, Ng cầm dao bấm xong vào định đâm bà L nhưng bà L đã vứt đoạn cây xuống đất và chạy vào nhà bà Sen nên Ng không đâm được. Sau đó Ng và M bỏ đi.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Cai Lậy thu giữ vật chứng trong vụ án gồm:

- 01 đoạn gỗ dài 1, 26 mét, thiết diện ngang hình chữ nhật kích thước 5,6x4,3 cm.

- 01 áo thun kiểu dáng nam, màu xanh trên áo có nhiều vết rách, có dính nhiều vết nghi máu đã khô.

- 01 áo sơ mi kiểu dáng nữ, màu đen có sọc trắng, trên áo có nhiều vết rách, có dính nhiều vết nghi máu đã khô.

Đối với 02 con dao sau khi gây án các bị cáo đã ném đi, Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không thu giữ được.

Bản kết luận giám định về thương tích số 65/2019/TgT ngày 22/01/2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh Tiền Giang kết luận tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Lê Văn T là 24%, thương tích do vật sắt, vật nhọn gây nên.

Bản kết luận giám định về thương tích số 66/2019/TgT ngày 22/01/2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh Tiền Giang kết luận tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Thị Huỳnh L là 12%, thương tích do vật sắt nhọn gây nên.

Cáo trạng số 45 ngày 02 tháng 10 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy truy tố Trần Hiếu Ng, Nguyễn văn Sam M về tội “ Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điểm d khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm d khoản 3 Điều 134, Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn văn Sam M và Trần Hiếu Ng phạm tội “ Cố ý gây thương tích” xử phạt các bị cáo:

1/ Nguyễn văn Sam M từ 05-06 năm tù.

2/ Trần Hiếu Ng từ 05-06 năm tù.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 Bộ luật TTHS, tịch thu tiêu hủy vật chứng đang tạm giữ.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Cả hai bị cáo đã biết lỗi của mình, rất ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về hòa nhập cộng đồng.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Việc vắng mặt của người làm chứng: Xét thấy, trong giai đoạn điều tra người bị hại, người làm chứng đã được Cơ quan điều tra lấy lời khai đúng theo trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, nên việc vắng mặt của những người này vẫn không làm ảnh hưởng đến việc xét xử đối với các bị cáo tại phiên tòa. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người làm chứng theo quy định tại khoản 1 của Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên. Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định tội danh:

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Trần Hiếu Ng, Nguyễn Văn Sam M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo đã phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà cơ quan điều đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án cụ thể: Vào khoảng 19 giờ ngày 31/12/2018 sau khi đã có uống rượu Trần Hiếu Ng điện thoại rủ Nguyễn văn Sam M đến nhà và dùng dao đâm và chém ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị Huỳnh L gây thương tích. Theo Bản kết luận giám định về thương tích số 65/2019/TgT và 66/2019/TgT ngày 22/01/2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh Tiền Giang kết luận tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Lê Văn T là 24%, của Nguyễn Thị Huỳnh L là 12%. Cho nên các bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm d khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng. Bởi lẽ, sau khi đã có uống rượu Trần Hiếu Ng đã điện thoại rủ Nguyễn Văn Sam M đến nhà tìm Lê Minh H để nói chuyện, vì trước đó giữa bị cáo Ng và Lê Minh H có xảy ra mâu thuẩn đánh nhau nhưng đã được mọi người can ngăn. Khi đến nhà không đánh được H thì cả hai bị cáo đã dùng dao là loại hung khí nguy hiểm đâm và chém cha mẹ ruột của H là ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị Huỳnh L gây thương tích, thể hiện bản tính hết sức hung hãn. Xét về ý thức thấy rằng các bị cáo vẫn biết sức khỏe cũng như tính mạng của con người là vốn qúi nhất bất khả xâm phạm luôn được pháp luật bảo vệ nếu ai vi phạm sẽ bị trừng trị nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi này không những trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác mà còn làm mất an ninh trật tự tại địa phương cho nên phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Do vụ án có 02 bị cáo thực hiện, để cá thể hóa hình phạt, xét thấy trước hết Trần Hiếu Ng là người giữ vai trò chính, vì bị cáo đã rủ rê Nguyễn Văn Sâm M cùng tham gia thực hiện tội phạm, bản thân đã có 02 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không biết sửa chữa mà lại tiếp tục vi phạm pháp luật. Còn Nguyễn Văn Sâm M sau khi được Ng rủ rê thì đồng ý và tham gia rất tích cực, một điều đáng lưu ý là giữa bị cáo M và H không hề xảy ra mâu thuẩn gì, chính bị cáo M là người dùng nón bảo hiểm đánh H trước, sau đó trực tiếp dùng dao gây thương tích cho cả ông T và bà L. Do đó vai trò của hai bị cáo gần như ngang bằng nhau nghĩ nên cả hai phải được xử phạt với mức án như nhau là phù hợp.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tác động gia đình tự nguyện khắc phục xong hậu quả, tại tòa người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ khi lượng hình.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Sau khi xem xét toàn bộ tính chất, mức độ nguy hiểm và hậu quả của hành vi do các bị cáo thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của từng bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải được xử lý nghiêm khắc và cách ly ra khỏi xã hội một thời gian dài mới có đủ tính răn đe, cải tạo giáo dục các bị cáo trở thành người lương thiện có ích cho xã hội.

Trần Hiếu Ng có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, qua xác minh số ma túy là của Th cho Ng để sử dụng, sau khi phạm tội Ng đã ném bịt ma túy xuống sông không thu giữ được, đối tượng tên Th xác minh không có nên không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau là phù hợp. Nguyễn Văn Sâm M có hành vi gây thương tích cho Lê Minh H, nhưng do H không yêu cầu và từ chói giám định nên không đặt ra giải quyết.

Về vật chứng:

Đối với các vật chứng hiện đang tạm giữ: Xét thấy hiện không còn giá trị sử dụng nghĩ nên tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra vụ án gia đình các bị cáo đã bồi thường cho ông Thấm và bà Long số tiền 50.000.000 đồng. Ông T, Bà L đã nhận đủ tiền và có đơn bãi nại trách nhiệm dân sự và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Xét lời đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm d khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

1/ Tuyên bố các bị cáo Trần Hiếu Ng và Nguyễn văn Sam M đồng phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt:

- Bị cáo Trần Hiếu Ng 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù

được tính từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 22/5/2019.

- Bị cáo Nguyễn văn Sam M 05 (năm) năm tù . Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 22/5/2019.

2/ Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 đoạn gỗ dài 1, 26 mét, thiết diện ngang hình chữ

nhật kích thước 5,6x4,3 cm; 01 áo thun kiểu dáng nam, màu xanh trên áo có nhiều vết rách, có dính nhiều vết nghi máu đã khô; 01 áo sơ mi kiểu dáng nữ, màu đen có sọc trắng, trên áo có nhiều vết rách, có dính nhiều vết nghi máu đã khô.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/10/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy).

3/Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy đình về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng về án phí và lệ phí Tòa án.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4/ Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 332, 333, 334 Bộ luật TTHS.

Bị cáo Trần Hiếu Ng, Nguyễn văn Sam M và các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ