vanban.org

Bản án 45/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Yên Bái, tỉnh Yên Bái Tuyên án 26/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lại Thái S phạm tội "Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lại Thái S 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2019. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 127, 131, 357, 468 Bộ luật dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lại Thái S trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lại Thái S phạm tội "Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ YÊN BÁI
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2019/HS-ST
Ngày 26-9-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Quang Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Quang Huy.

Bà Nguyễn Ngọc Oanh.

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Mai Huế –Thư ký Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Ông Trương Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2019, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2019/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2019/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

Lại Thái S; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 09/5/1978; Giới tính: Nam.

Nơi cư trú: khu 2, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: không; Con ông Lại Văn B, Sinh năm 1947 và bà Phạm Thị Đ, Sinh năm 1947. Hiện đều trú tại khu 2, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ;

Tiền án, tiền sự: không.

* Nhân thân: Bản án số 77/HS-ST ngày 16/12/2004 của Tòa án nhân dân thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 30 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” (đã được xóa án tích).

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/6/2019, hiện đang tạm giam tại trại giam Công an tỉnh Yên Bái – Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1960.

Địa chỉ: Tổ 4, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái – Vắng mặt

2. Chị Lê Thị H, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Thôn T, xã V, thành phố Y, tỉnh Yên Bái – Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Vương Thanh H, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Tổ 10, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái – Vắng mặt.

2. Ông Vũ Xuân L, sinh năm 1953.

Địa chỉ: Tổ 4, phường M, thành phố Y, tỉnh Yên Bái – Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

3. Ông Lại Văn B, sinh năm 1947.

Địa chỉ: Khu 2, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ – Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị D – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Yên Bái – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dụng vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 9 giờ ngày 16/6/2019, Lại Thái S đến quán cơm của chị Lê Thị H, thuộc thôn T, xã V, thành phố Y để ăn cơm. S nhìn thấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J6+ màu xám của chị H để trên mặt bàn nên đã nảy sinh ý định trộm cắp. Lúc này chị H đang nấu cơm dưới bếp nên không để ý, S đã lấy chiếc điện thoại rồi điều khiển xe mô tô đi đến quán tạp hóa của bà L với mục đích trộm cắp tài sản. Tại đây, S bị bà L nhận ra S là người có đặc điểm giống với người đã trộm cắp sữa của bà hai lần trước đó, nên đã báo công an phường Yên Thịnh, thành phố Yên Bái đến để làm việc.

Quá trình điều tra S khai nhận đã hai lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bà Nguyễn Thị Kim L như sau:

Lần 1: Khoảng 10 giờ ngày 13/6/2019, Lại Thái S đến quán tạp hóa của bà Nguyễn Thị Kim L, thuộc tổ 4, phường Y, thành phố Y. Quan sát thấy quán không có người trông coi nên S đã trộm cắp 3 hộp sữa nhãn hiệu Ensure Gold (01 hộp loại 850g, 02 hộp loại 400g). Sau đó, S đã đem bán luôn cho chị Vương Thanh H, SN: 1978, HKTT: tổ 10, phường Ng, TP Y lấy số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng).

Lần 2: Khoảng 10 giờ ngày 14/6/2019, S tiếp tục đến quán tạp hóa của gia đình bà Nguyễn Thị Kim L để trộm cắp tài sản. Tại đây, S đã lấy 03 hộp sữa nhãn hiệu Ensure Gold (01 hộp loại 850g, 02 hộp loại 400g). Sau đó mang bán cho ông Vũ Xuân L, SN: 1953, HKTT: tổ 4, phường M, TP Y 01 hộp sữa loại 400g được số tiền 210.000đ (Hai trăm mười nghìn đồng) và bán cho một người phụ nữ không quen biết trên khu vực đường Y, thành phố Y 01 hộp sữa loại 400g được số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Còn 01 hộp sữa loại 850g S mang về nhà sử dụng cho bản thân hết khoảng ½ ,phần sữa còn lại đến ngày 17/6/2019 cơ quan điều tra đã khám xét thu giữ.

Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Yên Bái đã tạm giữ các đồ vật tài sản sau: 03 hộp sữa nhãn hiệu Ensure Gold loại 400g; 02 hộp sữa nhãn hiệu Ensure Gold loại 850g; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J6+, màu xám cùng 01 ốp nhựa màu trong suốt; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu đỏ - đen, BKS: 24P6 – 0982.

Kết luận định giá tài sản số 40/KL-HĐĐGTS ngày 17/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Yên Bái kết luận:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J6+, màu xám; 01 ốp điện thoại di động bằng nhựa dẻo, màu trắng đục; 02 sim điện thoại Viettel. Có giá trị 2.100.000 đồng.

- 04 hộp sữa nhãn hiệu Ensure Gold, loại 400g; 02 hộp sữa nhãn hiệu Ensure Gold, loại 850g. Có giá trị 2.640.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản S chiếm đoạt là: 4.740.000 đồng (Bốn triệu, bảy trăm bốn mươi nghìn đồng).

Bản cáo trạng số 46/CT-VKS-TP ngày 23/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái truy tố Lại Thái S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lại Thái S phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Bộ luật hình sự, phạt bị cáo Lại Thái S từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2019.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 357, 468 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Vũ Xuân L là người đã mua của S 01 hộp sữa Ensure Gold với số tiền 210.000 đồng.

Về vật chứng và tài sản thu giữ trong vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra thành phố Yên Bái đã tiến hành trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Theo quy định của pháp luật.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo: Bị cáo S có hoàn cảnh khó khăn, thuộc gia đình hộ nghèo, hiện đang bị nhiễm HIV, không có việc làm ổn định. Đề nghị Hội đồng xét xử Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lại Thái S từ 06 đến 09 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo S.

Tại phiên toà bị cáo Lại Thái S đã khai báo thành khẩn, nhất trí với lời bào chữa, không có ý kiến tranh luận gì. Được nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Yên Bái, Điều tra viên, kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Yên Bái, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đủ cơ sở kết luận: Lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản, trong các ngày 13-14/6/2019 và ngày 16/6/2019 Lại Thái S đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản gồm: Của bà Nguyễn Thị Kim L 04 hộp sữa nhãn hiệu Ensure Gold, loại 400g; 02 hộp sữa nhãn hiệu Ensure Gold, loại 850g trị giá 2.640.000 đồng. Của chị Lê Thị H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J6+, màu xám; 01 ốp điện thoại di động bằng nhựa dẻo, màu trắng đục; 02 sim điện thoại Viettel trị giá 2.100.000 đồng. Tổng số tài sản Lại Thái S chiếm đoạt được của các bị hại là: 4.740.000 đồng (Bốn triệu, bảy trăm bốn mươi nghìn đồng). Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác do bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu về tài sản công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống cộng đồng. Động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo là vụ lợi cá nhân. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo phải được xét xử nghiêm minh.

Về nhân thân, bị cáo Lại Thái S là người có sức khỏe, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu sài cá nhân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đã bị Tòa án nhân dân thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 30 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” tại bản án số 77/HS-ST ngày 16/12/2004, nhưng bị cáo đã không lấy đó làm bài học để rèn luyện, sửa đổi bản thân, mà lại tiếp tục phạm tội. Thể hiện sự coi thường pháp luật, ý thức tu dưỡng và rèn luyện bản thân của bị cáo là rất kém. Do đó cần có một mức hình phạt thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới có thể giáo dục, cải tạo được bị cáo và phòng chống tội phạm nói chung.

Về tình tiết tăng tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Lại Thái S không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, gia đình bị cáo là người có công với cách mạng (Bố đẻ bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, mẹ đẻ bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba). Do đó Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, theo quy định tại các điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có công việc ổn định, lao động tự do, không có thu nhập và là hộ nghèo. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự và vật chứng của vụ án:

Bị hại chị Lê Thị H và bà Nguyễn Thị Kim L đã nhận lại tài sản do bị cáo chiếm đoạt và không có yêu cầu, đề nghị gì về phần trách nhiệm dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ông Vũ Xuân L vắng mặt tại phiên tòa, nhưng theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện, ông Lịch mua 01 hộp sữa nhãn hiệu Ensure loại 400g của Lại Thái S, nhưng không biết đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có, nên là giao dịch ngay tình, ông L yêu cầu bị cáo phải hoàn trả cho ông số tiền đã trả cho bị cáo là 210.000 đồng. Do vậy cần buộc bị cáo phải hoàn trả cho ông L số tiền 210.000 đồng.

Đối với ông Lại Văn B (bố đẻ của bị cáo): Khi S lấy xe mô tô BKS 24P6 - 0982 của gia đình đi thì ông không biết S sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp.

Đối với chị Vương Thanh H là người đã mua 03 hộp sữa Ensura của S với giá 1.000.000 đồng nhưng không biết đó là tài sản trộm cắp mà có và không yêu cầu S phải bồi thường số tiền 1.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Yên Bái đã trả lại: 03 hộp sữa nhãn hiệu Ensure Gold loại 400g; 02 hộp sữa nhãn hiệu Ensure Gold loại 850g; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J6+, màu xám cùng 01 ốp nhựa màu trong suốt; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu đỏ - đen, BKS: 24P6 - 0982, cho các chủ sở hữu hợp pháp là bà Nguyễn Thị Kim L, chị Lê Thị H, ông Lại Văn B là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lại Thái S phạm tội "Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lại Thái S 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2019.

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 127, 131, 357, 468 Bộ luật dân sự:

Buộc bị cáo Lại Thái S phải hoàn trả cho ông Vũ Xuân L số tiền là 210.000 đồng (Hai trăm mười nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, ông Lịch có đơn yêu cầu thi hành án mà bị cáo chưa thi hành xong khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, giảm, miễn, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Lại Thái S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ