vanban.org

Bản án 45/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vinh, tỉnh Nghệ An Tuyên án 25/02/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Trộm cắp tài sản” .

Về vật chứng: Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước chiếc xe máy BKS 37H3 - 8892 hiện có tại kho tang vật Chi cục thi hành án thành phố Vinh theo phiếu nhập kho vật chứng số NK125 ngày 23/01/2019. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn A phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí HSST. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thái hoàng Dũng - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Trộm cắp tài sản” .
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN THÀNH PHỐ VINH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH NGHỆ AN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/ 2019/HS-ST
Ngày: 25/02/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Hảo – Bà Trần Thị Như Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia

phiên tòa: Bà Phạm Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh

Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2019/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2019/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo :

Họ và tên: Nguyễn Văn A - Sinh ngày 20 tháng 02 năm 1982

Nơi ĐKNKTT và trú tại: khối 10, phường Cửa Nam, thành phố Vinh,Nghệ An.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn D và bà Cao Thị T ; Anh, chị, em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Dương Thị S (đã ly hôn); Con: có 1 con sinh năm 2009.

Tiền án, tiền sự: không

Nhân thân: - Ngày 25/4/2005, bị TAND TP Vinh xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ra trại ngày 24/10/2006.

- Ngày 31/12/2010, bị TAND TP Vinh xử phạt 36 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong ra trại tháng 3/2013.

- Ngày 29/9/2014, bị TAND TP Vinh xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ra trại ngày 10/9/2016.

Tạm giữ, tạm giam: từ ngày 21/11/2018 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: - Chị Thái Thị T - sinh năm 1993 (vắng mặt)

Trú tại: dãy nhà trọ số 1, đường Nguyễn Năng Tĩnh, khối 3, phường Hà Huy Tập, TP Vinh, Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 21/11/2018, Nguyễn Văn A điều khiển xe máy Loncin, màu nâu BKS 37H3 -8892 đi đến dãy trọ số 1, đường Nguyễn Năng Tĩnh, thuộc khối 3, phường Hà Huy Tập, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Tại đây A nhìn thấy phòng trọ của chị Thái Thị Thủy và chị Hồ Thị Nga đang nằm ngủ trên giường, bên cạnh có chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu xám đang xạc pin. Quan sát xung quang không có ai, A lén lút đi vào phòng lấy trộm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus của chị Thủy cất giấu vào trong túi quần đang mặc rồi đi ra ngoài. Khi A đến cửa thì chị Nga và chị Thủy tỉnh dậy phát hiện hoo hoán, đuổi theo đến cổng cả 3 người giằng co nhau thì A lấy chiếc điện thoại trong túi quần vứt lại rồi bỏ chạy. Đến 22 giờ 30 phút cùng ngày 21/11/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vinh đã bắt khẩn cấp đối với Nguyễn Văn A.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 232/KL- ĐGTS ngày 26/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố Vinh kết luận: trộm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus có trị giá 5.500.000 đồng.

Cáo trạng số 07/VKS - HS ngày 08/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân TP.Vinh truy tố Nguyễn Văn A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện VKS vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.

Về dân sự: Chị T đã nhận lại chiếc điện thoại không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét.

Về vật chứng: Đối với chiếc xe máy BKS 37H3 -8892, quá trình điều tra xác định là tài sản của A dùng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu tài được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại…

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Vinh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Vào 14 giờ 30 phút ngày 21/11/2018, Nguyễn Văn A có hành vi lén lút chiếm đoạt của chị Thái Thị T một chiếc điện thoại Iphone 6 plus trị giá 5.500.000 đồng. Hành vi mà bị cáo Nguyễn Văn A thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điều 173 BLHS.

Vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là liều lĩnh và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự công cộng, trị an xã hội, an toàn xã hội tại địa phương. Bản thân bị cáo đã bị xét xử, giáo dục nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà do lười lao động nên đã phạm tội. Lần phạm tội này tuy không thuộc trường hợp tái phạm nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy, cần xử lý nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội. Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần vì có thái độ khai báo thành khẩn, nên cần xử bị cáo mức hình phạt như đề nghị của đại diện VKS là đủ nghiêm để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về dân sự: Tài sản đã thu hồi trả lại cho người bị hại. Người bị hại không có ý kiến gì về dân sự nên miễn xét.

Về vật chứng: Đối với chiếc xe máy BKS 37H3 - 8892 A sử dụng đi trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra xác định là tài sản của A dùng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Trộm cắp tài sản” .

Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1 điều 51 BLHS; điểm a khoản 2 điều 106, điều 136 BLTTHS; điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn A 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/11/2018.

Về vật chứng: Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước chiếc xe máy BKS 37H3 - 8892 hiện có tại kho tang vật Chi cục thi hành án thành phố Vinh theo phiếu nhập kho vật chứng số NK125 ngày 23/01/2019.

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn A phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí HSST.

Trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n bÞ c¸o có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ