vanban.org

Bản án 45/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 28/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng C phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”:

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. [1] Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Số 45 Nguyễn Hoàng C phạm tội“Gây rối trật tự công cộng” - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng C phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 45/2019/HS-ST
Ngày: 28-6-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Quốc Việt

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Hữu Tấn;

Ông Võ Thanh Tân;

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bé Thu - Thư ký Tòa án, của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Khoa - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố X, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2019/TLST-HS ngày 26 tháng 04 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2019/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 95/2019/HSST-QĐ, ngày 13 tháng 06 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng C (tên gọi khác I Rắc), sinh năm 1991, tại An Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khóm A, phường Đ, thành phố X, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1964 và bà Lê Thị T, sinh năm 1964; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1991; bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2014; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 22 tháng 01 năm 2016, bị Tòa án nhân dân thành phố X ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 22 tháng, đến ngày 04 tháng 9 năm 2017 chấp hành xong quyết định; Nhân thân: Nhỏ đến lớn sống chung với cha mẹ, đi học hết lớp 4 thì nghỉ. Năm 2011 bị Ủy ban nhân dân thành phố X ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” với thời hạn 24 tháng, đã chấp hành xong quyết định.

Bị cáo bị bắt, tạm giam: từ ngày 15 tháng 01 năm 2019.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Phạm Thành Đ – Luật sư của Văn phòng luật sư Y thuộc Đoàn luật sư tỉnh An Giang (có mặt).

Địa chỉ: đường L, phường M, thành phố X, tỉnh An Giang.

- Bị hại: Công an phường Đ. Do ông Trình Văn Thống, sinh năm 1970 - Trưởng Công an phường đại diện theo pháp luật (vắng mặt).

Địa chỉ: khóm T, phường Đ, thành phố X, tỉnh An Giang.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn S, sinh năm 1982 (có mặt).

Địa chỉ: khóm H, phường Đ, thành phố X, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 14 tháng 01 năm 2019, Nguyễn Hoàng C điều khiển xe đạp mang theo 03 viên gạch thẻ bằng đất nung đến trụ sở Công an phường Đ, thành phố X có lời lẽ thô tục chửi lực lượng Công an phường và ném 01 viên gạch thẻ vào trụ sở Công an phường trúng vào thanh sắt chắn ô thông gió ban công tầng một. Thấy vậy, anh Trần Bình N và Huỳnh Đăng K, là cán bộ Công an phường Đ ra yêu cầu C không được làm mất trật tự thì C ném 01 viên gạch thẻ về phía anh N nhưng không trúng mà trúng vào vách tường trụ sở Công an phường. Lúc này, anh K yêu cầu C dừng lại nhưng C tiếp tục cầm gạch định ném về phía anh N và anh K nên anh K bắn chỉ thiên 02 phát (súng bắn đạn cao su). Lúc này, C lên xe đạp chạy đến quán cà phê S ở khóm H, phường Đ gọi nước uống. Khoảng 20 phút sau, thấy anh N cùng lực lượng bảo vệ dân phố đến thì C chạy vào quầy pha chế lấy 01 cây dao tầm bức bằng kim loại dài 35cm và 01 cây dao bầu bằng kim loại dài 45cm, mỗi tay cầm một cây dao dọa đánh anh Nvà lực lượng bảo vệ dân phố. Do được những người uống cà phê trong quán can ngăn nên C cầm dao đi bộ về nhà tại khóm A, phường Đ, thành phố X đóng cửa nhà cố thủ. Đến 14 giờ 50 phút cùng ngày, Cảnh sát 113 xịt hơi cay, bắn đạn cao su khống chế bắt giữ C. Do C bị thương nên Công an phường đưa đến Bệnh viện Đa khoa trung tâm An Giang điều trị. Đến ngày 15 tháng 01 năm 2019, C bị khởi tố, bắt tạm giam để điều tra.

Kết luận về việc xác định giá trị tài sản số 46/KL.HĐ ngày 14 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phốX, xác định:

- 01 vết tróc nước sơn, kích thước 09cm x 03cm, vật tư + tiền công: 17.500 đồng.

- 01 vết tróc nước sơn, kích thước 01cm x 02cm, vật tư + tiền công: 17.500 đồng.

Tổng trị giá tài sản bị thiệt hại là: 35.000 đồng.

Kết luận giám định pháp y tâm thần số 43/2019/KLGĐTC ngày 15 tháng 3 năm 2019 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ, xác định Nguyễn Hoàng C, sinh năm 1991:

- Về y học: Trước, trong, sau khi phạm tội và hiện tại: Đương sự có bệnh lý tâm thần: Rối loạn nhân cách và hành vi do sử dụng nhiều loại ma túy (F19.71-ICD10)

- Về năng lực: Tại thời điểm phạm tội và hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do bệnh lý tâm thần.

Tại cáo trạng số 38/CT-VKS ngày 25/04/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố X truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng C, về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố X vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm q, s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng C từ 02 (hai) đến 03 (ba) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy: 02 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng có ký hiệu Walthet 10 x 22T; Nhiều mảnh vỡ của gạch xây dựng màu đỏ, kích thước khác nhau;

Trả lại cho bị cáo: 01 cây dao Thái Lan dài 20 cm, cán bằng nhựa, lưỡi bằng kim loại;

Trả lại cho anh Sang: 01 cây dao tầm bức bằng kim loại dài 35 cm; 01 cây dao bầu bằng kim loại dài 45 cm;

Luật sư bào chữa cho bị cáo C: Đề nghị xem xét các tình tiết giảm nhẹ tại Điều 51 Bộ luật hình sự, đồng thời bị cáo bị tâm thần, có con còn nhỏ nên đề nghị xem xét áp dụng Điều 54 để xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

Kiểm sát viên tranh luận: Qua kết luận giám định, bị cáo không bị tâm thần, bị cáo chỉ có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình tình tiết này Viện kiểm sát cũng đã đề nghị xem xét tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Bị cáo Nguyễn Hoàng C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Bị cáo không tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo nói lời sau cùng đã ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử phù hợp quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm hình sự:

Bị cáo nghiện ma túy nên ngày 22 tháng 01 năm 2016, bị Tòa án nhân dân thành phố X ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 22 tháng, đến ngày 04 tháng 9 năm 2017 chấp hành xong quyết định, về địa phương bị cáo cho rằng công an phường nhiều lần mời bị cáo thử test ma túy. Tại phiên tòa bị cáo khai cũng chỉ nghe những người ở xóm nói mời nên ngày 14 tháng 01 năm 2019 bị cáo đã đến Công an phường có hành vi la hét, ném gạch vào trụ sở Công an phường Đ gây hư hỏng tài sản làm thiệt hại 35.000 đồng, ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan nhà nước, gây mất an ninh, trật tự nơi công cộng. Mặc dù lực lượng công an phường đã bắn chỉ thiên nhiều phát đạn nhưng bị cáo vẫn tiếp tục thực hiện hành vi la hét. Sau đó đến khu vực pha chế của quán cafe gần đó tiếp tục lấy 01 cây dao tầm bức bằng kim loại dài 35cm và 01 cây dao bầu bằng kim loại dài 45cm, mỗi tay cầm một cây dao dọa đánh anh N và lực lượng bảo vệ dân phố. Hành vi của bị cáo cản trở sự hoạt động bình thường của công an phường Đ. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi này. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố X truy tố bị cáo là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt:

Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Phạm tội có tính chất côn đồ quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo thực hiện hành vi ngay tại trụ sở công an phường thể hiện sự xem thường pháp luật, bị cáo có nhân thân xấu khi đã được tập trung cai nghiện nhưng vẫn thể hiện tính côn đồ mặc dù được nhiều người căn ngăn những vẫn liên tục thực hiện các hành vi chống đối tiếp theo, nên cần áp dụng một hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm:

Bị cáo phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng C phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”:

Căn cứ vào:

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm q, s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

[1] Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù

Thời hạn tù tính từ ngày: 15/01/2019.

[2] Về các biện pháp tư pháp:

Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) vỏ đạn bằng kim loại màu vàng có ký hiệu Walthet 10 x 22T; Nhiều mảnh vỡ của gạch xây dựng màu đỏ, kích thước khác nhau;

Trả lại cho bị cáo: 01 (một) cây dao Thái Lan dài 20 cm, cán bằng nhựa, lưỡi bằng kim loại;

Trả lại cho anh Phạm Văn S: 01 (một) cây dao tầm bức bằng kim loại dài 35 cm; 01 cây dao bầu bằng kim loại dài 45 cm.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố X và Chi cục thi hành án dân sự thành phố X ngày 08/5/2019)

[3] Về án phí:

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo:

Đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

(Đã giải thích điều 26 Luật thi hành án)

Cỡ chữ