- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 45/2019/HNGĐ-ST Ngày: 25/6/2019 V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NUỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thái Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Ngọc Tuấn Anh
2. Bà Lê Thị Kiều Thu
Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thái Hà – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tp Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: bà Trương Thị Mỹ Thuận – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 92/2019/TLST-HNGĐ ngày 27/02/2019, về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2019/QĐST-HNGĐ ngày 14/5/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 161/2019/QĐST-HNGĐ ngày 03/6/2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: bà Trương Thị Kim P, sinh năm 1990; (có mặt)
Địa chỉ: KP8, phường PT, Phan Thiết, Bình Thuận.
2. Bị đơn: ông Đoàn Duy K, sinh năm 1990 (vắng mặt);
Địa chỉ: KP10, phường PT, tp Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/02/2019, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn là bà Trương Thị Kim P trình bày:
Bà Trương Thị Kim P và ông Đoàn Duy K tự tìm hiểu và tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn vào năm 2011 tại Ủy ban nhân dân phường PT, Phan Thiết, Bình Thuận.
Quá trình chung sống với nhau thường xuyên cải vả, xãy ra nhiều mâu thuẩn, bất hòa về mọi mặt. Ông K không có trách nhiệm với gia đình không lo làm ăn để lo cho con cái. Nay bà P thấy tình cảm vợ chồng không còn, đã không còn ở với nhau, bà P đã về nhà mẹ ruột sống hơn 1 năm, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà làm đơn yêu cầu ly hôn ông K.
Về con chung: bà và ông K có 02 con chung là cháu Đoàn Nhất T, sinh ngày 31/10/2011 và ĐoànTố Như, sinh ngày 15/9/2013, hiện bà P đang nuôi cháu Như, ông K đang nuôi cháu Trung. Khi ly hôn, bà P yêu cầu được nuôi cháu Như, ông K tiếp tục nuôi cháu Trung như hiện tại, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà P không yêu cầu Tòa giải quyết.
Bị đơn là ông Đoàn Duy K có hộ khẩu và nơi ở tại KP10, phường PT, tp Phan Thiết. Tòa án đã tiến hành tống đạt trực tiếp giấy triệu tập và các văn bản tố tụng nhưng không thực hiện được vì ông K thường xuyên vắng nhà. Tòa án đã niêm yết đầy đủ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng theo luật định. Ông K không đến Tòa làm việc, không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt tại các phiên tòa không có lý do.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và HĐXX là đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định. Đề nghị chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho ly hôn, giao cho mỗi người nuôi một con theo như yêu cầu của nguyên đơn, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Yêu cầu ly hôn, nuôi con của bà Trương Thị Kim P là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ông Đoàn Duy K đã được Tòa án niêm yết giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác theo luật định để làm việc và tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử.
Về nội dung: Xét yêu cầu ly hôn của bà P, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà P và ông K quá trình chung sống với nhau thường xuyên cải vả, xãy ra nhiều mâu thuẩn, không có tiếng nói chung, không thể chung sống với nhau được. Hai người đã ly thân nhưng vẫn không hàn gắn và không còn quan tâm đến nhau. Quá trình giải quyết, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông K lên làm việc và hòa giải nhưng ông K vắng mặt. Điều đó cho thấy tình cảm quan hệ vợ chồng giữa bà P và ông K đã không còn, ông K không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc, mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng, không còn sống chung, không còn quan tâm đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà P.
Về con chung: Xét yêu cầu giải quyết việc nuôi con của bà P, bà P yêu cầu được nuôi cháu Đoàn Tố N, ông K tiếp tục nuôi cháu Đoàn Nhất T như hiện tại, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Quá trình giải quyết vụ án ông K không đến Tòa, không có ý kiến về việc nuôi con. Qua xác minh thì ông K hiện đang nuôi cháu Trung, bà P nuôi cháu Như. Do đó HĐXX chấp nhận giao con chung cho hai bên nuôi như hiện nay, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà P và ông K không yêu cầu nên Tòa không xem xét giải quyết.
Về án phí: bà P là nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 51, 56, 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trương Thị Kim P. Bà Trương Thị Kim P được ly hôn ông Đoàn Duy K.
2. Về con chung: Giao cho bà Trương Thị Kim P trực tiếp nuôi dưỡng cháu ĐoànTố Như, sinh ngày 15/9/2013, ông Đoàn Duy K trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đoàn Nhất T, sinh ngày 31/10/2011; không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Bà P và ông K được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
3. Về án phí: bà Trương Thị Kim P phải nộp 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn. Bà P đã nộp đủ tiền án phí theo biên lai thu tạm ứng số 0024143 ngày 27/02/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết.
Trường hợp bản án có hiệu lực được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (25/6/2019). Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: -VKS tp Phan Thiết; -THA tp Phan Thiết; -Nơi thực hiện việc ĐKKH -Đương sự; -Lưu. | TM, HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) PHẠM THÁI BÌNH |