vanban.org

Bản án 45/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do mâu thuẫn về kinh tế

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhậ nsự thỏ a thuậ n giữ a anh Nguyễ n Văn D và chị Trầ n Thị L:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễ n Văn D và chị Trầ n Thị L thuậ n tỉ nh ly hôn. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Trung T, sinh ngày 15/9/2012 và Nguyễn Văn Quang Đ, sinh ngày 02/6/2016. Anh D tiế p tụ c nuôi con chung là Nguyễ n Trung T . Chị L tiế p tụ c nuôi con chung … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do mâu thuẫn về kinh tế — án hôn nhân và gia đình — "Anh Nguyễn Văn D xin ly hôn chị Trần Thị L"
  • Tòa quyết gì? Công nhậ nsự thỏ a thuậ n giữ a anh Nguyễ n Văn D và chị Trầ n Thị L:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2019/HNGĐ-ST
Ngày 10/10/2019
Về việc Ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhàn

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sâm và ông Đà o Đứ c Phú .

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễ n Việ t Anh – Thư ký Tò a á n

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên toà: Bà Nguyễ n Thị Mai Anh - Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 10 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 216/2019/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp việc nuôi con và chia tài sản ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2019/QĐXX-ST ngày 11 tháng 9 năm 2019 giữa:

Nguyên đơn: Anh Nguyễ n Văn D, sinh năm 1989. Có mặt;

Địa chỉ: Thôn Sơn Trung, xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh;

Bị đơn: Chị Trầ n Thị L, sinh năm 1989. Có mặt;

Địa chỉ : Xưở ng A , Công ty TNHH VDS khu công nghiệ p Quế Võ

1, phườ ng V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (Mã thẻ: 6843)

Ngườ i có quyề n lợ i , nghĩa vụ liên quan : Bà Nguyễn Thị H , sinh năm 1964 và ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1963 (Cùng vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Sơn Trung, xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/4/2019 , bản tự khai và lời khai tại Tòa án, anh Nguyễ n Văn D trình bày: Anh D kết hôn với chị Trầ n Thị L vào ngày 25/8/2011. Trước khi kết hôn anh chị có tìm hiểu, tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết hôn chị L về chung sống với anh D ngay. Vợ chồng chung sống cùng gia đình anh D tại thôn Sơn Trung, xã N , thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, khoảng một năm thì vợ chồng ra ăn riêng, ở riêng trên nhà đất do bố mẹ anh D tạo dựng.

Cuộc sống chung vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị L không chăm lo cuộc chung vợ chồng. Anh D góp ý, chị L không tiếp thu. Vì vậy, vợ chồng có đánh cãi chửi nhau. Đến tháng 11/2018 chị L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Trong thời gian chị L về nhà bố mẹ đẻ anh D có nhiều lần đến gọi chị L về chung sống đoàn tụ nhưng chị L không đồng ý. Đến nay anh D nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm. Anh D xin ly hôn chị L.

Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Trung T, sinh ngày 15/9/2012 và Nguyễn Văn Quang Đ, sinh ngày 02/6/2016. Hiện cháu T do anh D trực tiếp nuôi dưỡng, còn chị L đang nuôi dưỡng cháu Đ. Ly hôn anh D đề nghị giữ nguyên hiện trạng nuôi con, không yêu cầu giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung vợ chồng, anh D thừa nhận trong thời gian vợ chồng chung sống có xây dựng được một nhà 02 tầng diện tích xây dựng một sàn là 80m2 trong đó tầng một xây dựng năm 2012, tầng hai lợp tôn xây dựng năm 2015, giá trị công trình là khoảng 150.000.000 đồng. Ngoài ngôi nhà trên, vợ chồng không có tài sản gì khá c

Tại bản tự khai, biên bả n ghi lờ i khai chị L xác nhận lời trình bày của anh D về thời gian kết hôn, chung sống cùng nhau. Theo chị L nguyên nhân do vợ chồng không thống nhất về cách chăm sóc, nuôi dạy con nên thường xuyên đánh cãi cãi chửi nhau. Mặt khác, vợ chồng còn không tin tưởng nhau trong chi tiêu kinh tế gia đình. Mâu thuẫn vợ chồng kéo dài đến tháng 10/2018 chị L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Một tháng sau, anh D đã gọi chị L về vợ chồng đoàn tụ nhưng tình cảm vợ chồng không cải thiện vẫn thường xuyên đánh cãi chửi nhau. Vì vậy, chị L đã quyết định ly thân anh D, không chung sống cùng anh D từ tháng 11/2018. Đến nay, anh D xin ly hôn, chị L đồng ý ly hôn.

Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Trung T, sinh ngày 15/9/2012 và Nguyễn Văn Quang Đ, sinh ngày 02/6/2016. Hiện cháu Thành do anh D trực tiếp nuôi dưỡng, còn chị L đang nuôi dưỡng cháu Đ. Ly hôn chị L đề nghị giữ nguyên hiện trạng nuôi con, không yêu cầu giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Năm 2012 vợ chồng có xây một nhà trần diện tích 80m2 trên thửa đất khoảng 720m2 của bố mẹ anh D tại thôn Sơn Trung, xã N. Thửa đất này đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị H. Tại thời điểm xây dựng bố mẹ đẻ anh D có cho 9.000 viên gạch xây móng. Toàn bộ tiề n xây dự ng nhà do vợ chồng bỏ ra gồm có tiền do vợ chồng tích góp được là 175.500.000 đồng, tiền bán 05 chỉ vàng do bố mẹ chị L cho khi cưới anh D và tiền đi vay 10.000.000 đồng. Tổng chi phí khoảng 215.000.000 đồng. Đến năm 2015 vợ chồng hoàn thiện phầ n cửa và xây tầng hai lợp tôn, chi phí khoảng 100.000.000 đồng. Chị L đề nghị chia đôi giá trị ngôi nhà này. Chị L để anh D tiếp tục quản lý ngôi nhà này nhưng phải trích trả chị L ½ trị giá ngôi nhà. Đối với nhữ ng tà i sả n khá c chị L không yêu cầ u xem xé t giả i quyế t.

Bà H trình bày: Năm 2011 vợ chồ ng bà cướ i hỏ i chị L cho D con trai ông bà, sau ngà y cướ i vợ chồ ng D , L về số ng chung cù ng gia vợ chồ ng bà H . Khoảng một tháng sau ngày cưới vợ chồng bà H cho vợ chồ ng D, L ra ở riề n trên ngôi nhà cấ p 4 lợ p Proximang do vợ chồ ng bà H xây dự ng trên thử a đấ t số 25 tờ bả n đồ số 28, diệ n tí ch 614m2 của vợ chồ ng bà H tại thôn Sơn Trung , xã N, thành phố B . Năm 2012 vợ chồ ng D, L phá nhà cũ xây nhà mới 01 tầ ng. Năm 2015 hoàn thiện phầ n cử a và xây tầ ng hai lợ p tôn, hiệ n tạ i ngôi nhà vẫ n chưa sơn. Khi vợ chồ ng D, L xây nhà năm 2012 vợ chồ ng bà H có cho toàn bộ gạch xây . Nay D, L ly hôn bà H không yêu cầ u đố i vớ i số gạ ch đã cho vợ chồ ng D, L.

Tại phiên tòa hôm nay: Anh D vẫ n giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và lời trình bày tại Tòa án. Anh D xin được ly hôn chị L. Anh D đề nghị giữ nguyên hiệ n trạng nuôi con, vấ n đề cấ p dưỡ ng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối vớ i ngôi nhà do vợ chồ ng xây dự ng trong thờ i gian chung số ng , theo anh D vợ chồ ng chỉ bỏ ra là 150.000.000 đồ ng. Bở i lẽ anh là ngườ i trự c tiế p xây dự ng , mua nguyên vậ t liệ u . Anh D cho rằ ng Hộ i đồ ng thẩ m đị nh đưa ra giá trị cò n lạ i củ a ngôi nhà là 324.788.000 đồ ng là hoàn toàn phù hợp với thực tế hiệ n nay nhưng không phù hợ p vớ i số tiề n vợ chồ ng anh đã xây dự ng tạ i thờ i đi ểm năm 2012 và 2015. Anh D không yêu cầ u đị nh giá lạ i.

Chị L đồ ng ý ly hôn, về vấ n đề con chung chị L đồ ng ý vớ i đề nghị củ a anh D. Vấ n đề tà i sả n chung chị L đề nghị chia đôi ngôi nhà 02 tầ ng vợ chồ ng xây dự ng trên thử a đấ t củ a ông K bà H . Chị L để anh D tiế p tụ c sở hữ u ngôi nhà nhưng phả i trí ch trả chênh lệ ch cho chị L bằ ng tiề n bằ ng ½ trị giá ngôi nhà nà y.

Ông K, bà H vắ ng mặ t tạ i phiên tò a.

Đại diện VKSND thành phố B phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về tố tụng: Cả Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn, bị đơn đều chấp hành đúng những qui định của Bộ luật tố tụng dân sự, riêng ngườ i có quyề n lợ i nghĩ a vụ liên quan không chấp hành đúng qui định, vắng mặt trong các phiên họp và phiên tòa.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điề u 51, Điều 55, Điều 59; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân gia đình. Công nhậ n việ c thỏ a thuậ n thuậ n tì nh ly hôn giữ a anh D và chị L. Công nhận sự thỏa thuận về con chung anh D tiế p tụ c nuôi con chung là Nguyễ n Trung T , sinh ngà y 12/9/2012. Chị L tiế p tục nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Văn Quang Đ , sinh ngà y 02/6/2016. Vấ n đề cấ p dưỡ ng nuôi con không yêu cầ u giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Giao cho anh D sở hữ u ngôi nhà 02 tầ ng diệ n tí ch 158,68m2 xây trên thử a đấ t số 25, tờ bả n đồ số 28, diệ n tí ch 614m2 của ông K bà H tại thôn Sơn Trung, xã N, thành phố B đượ c Tò a á n xá c đị nh có tổ ng trị giá là 324.788.000 đồ ng. Anh D tiế p tụ c quả n lý sử dụ ng ngôi nhà này nhưng phả i trí ch trả cho chị L tiề n chênh lệ ch về tà i sả n là 162.394.000 đồ ng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Anh Nguyễ n Văn D và chị Trầ n Thị L kết hôn với nhau ngày 25/8/2011, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, như vậy là hôn nhân hợp pháp.

Cuộc sống chung vợ chồng chỉ hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồ ng không cò n tin tưở ng lẫ n nhau về vấ n đề kinh tế và không cù ng quan điể m trong việ c giá o dụ c con chung nên thườ ng xuyên đá nh cã i chử i nhau

. Vợ chồ ng đã ly thân từ thá ng 11/2018. Anh Dũ ng xin ly hôn chị Lan đồ ng ý ly hôn . Cầ n ghi nhậ n việ c thuậ n tình ly hôn giữ a anh Dũ ng và chị Lan.

Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Trung T, sinh ngày 15/9/2012 và Nguyễn Văn Quang Đ, sinh ngày 02/6/2016. Hiện cháu T do anh D trực tiếp nuôi dưỡng, còn chị L đang nuôi dưỡng cháu Đ. Anh D chị L thố ng nhấ t giữ nguyên hiện trạng nuôi con, không yêu cầu giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con. Vì vậ y ghi nhậ n việ c thỏ a thuậ n về con c hung anh D nuôi con chung là Nguyễ n Trung T, chị L nuôi con chung là Nguyễ n Văn Quang Đ , vấ n đề cấ p dưỡ ng nuôi con không yêu cầ u nên không xem xé t giả i quyế t.

Về vấn đề tài sản chung: Anh D chị L cùng thống nhất vợ chồng có 01 ngôi nhà 02 tầ ng diệ n tí ch 158,68m2 xây trên thử a đấ t số 25, tờ bả n đồ số 28, diệ n tí ch 614m2 của ông K bà H tại thôn Sơn Trung , xã N, thành phố B đượ c Tò a á n xá c đị nh có tổ ng trị giá là 324.788.000 đồ ng. Mặ c dù anh D cho rằ ng giá trị ngôi nhà đượ c Tò a á n xá c đị nh là phù hợ p th ực tế nhưng không đúng với số tiền anh chị đã bỏ ra xây dựng ngôi nhà này và bản thân anh D

cũng thừa nhận số tiền 150.000.000 đồ ng là tiề n vợ chồ ng anh chị bỏ ra là m nhà cò n ngoà i ra có cá c chi phí khác như nhân công d o anh và mọ i ngườ i là m giú p ; gạch xây do bố mẹ anh cho, cố t pha do họ hà ng trợ giú p… .Vì vậy việc xác định ngôi nhà có giá trị hiện tại là 324.788.000 đồ ng là hoà n toà n chí nh xá c.Nên cầ n giao cho anh D tiế p tụ c sở hữ u tài sản này nhưng phải trích trả chị L ½ giá trị là 162.394.000 đồ ng. Đối với các tài sản khác chị L không yêu cầ u nên không xem xé t giả i quyế t.

Về chi phí tố tụ ng : Anh D chị L mỗ i ngườ i phả i chị u ½ chi phí xem xé t thẩ m đị nh tạ i chỗ và đị nh giá tà i sả n . Xác nhận chị L đã nộ p tạ m ứ ng chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản 5.000.000 đồ ng.

Về án phí: Anh D chịu án phí ly hôn. Anh D, chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩ m sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 146, Điều 147, Điều 204, Điều 220, Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự

Áp dụng Điều 51; Điều 55; Điề u 59; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Công nhậ nsự thỏ a thuậ n giữ a anh Nguyễ n Văn D và chị Trầ n Thị L:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễ n Văn D và chị Trầ n Thị L thuậ n tỉ nh ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Trung T, sinh ngày 15/9/2012 và Nguyễn Văn Quang Đ, sinh ngày 02/6/2016. Anh D tiế p tụ c nuôi con chung là Nguyễ n Trung T . Chị L tiế p tụ c nuôi con chung là Nguyễ n Văn Quang Đ. Vấ n đề cấ p dưỡ ng nuôi con không yêu cầ u giả i quyế t.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Xử : Xác nhận 01 ngôi nhà 02 tầ ng diệ n tí ch 158,68m2 xây trên thử a đấ t số 25, tờ bả n đồ số 28, diệ n tí ch 614m2 của ông K bà H tại thôn Sơn Trung , xã N, thành phố B là tài sản chung vợ chồ ng. Giao cho anh D tiế p tụ c sở hữ u khố i tà i sản này nhưng có nghĩa vụ trích trả chênh lệch về tài sản cho chị L số tiề n là 162.394.000 đồ ng.

Trườ ng hợ p anh D chậ m thanh toá n anh D phải chịu lãi theo mứ c lãi suất qui đị nh tạ i khoả n 2 Điề u 468 Bộ luậ t dân sự

Về chi phí tố tụ ng : Anh D, chị L mỗ i ngườ i phải chịu 2.500.000 đồ ng chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản . Chị L đã nộ p đủ chi phí nà y . Số tiề n 2.500.000 đồ ng thu củ a anh D đượ c trả lạ i cho chị L.

Về án phí: Anh D phải chịu 150.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và 8.120.000 đồ ng á n phí dân sự sơ thẩ m nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số AA/2018/0001825 ngày 20/5/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh. Chị L phải nộp tiếp 8.120.000 đồ ng án phí dân sự sơ thẩ m nhưng đượ c trừ và o số tiề n tạ m ứ ng á n phí đã nộ p 3.390.000 đồ ng tại biên lai thu số: AA/2018/0001880 ngày 10/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố B. Chị L phải nộp tiếp 4.730.000 đồ ng á n phí chia tà i sả n.

Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngườ i có quyề n lợ i nghĩ a vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt án xử vắng mặt.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yều cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ