- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Phùng Trần L - Đặng Thị H."
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45 /2019/HNGĐ - ST Ngày: 09 /9 /2019 V/v : Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Hừong.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Xuân Thuật
2. Ông Nguyễn Văn Trình
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, Thành phố Hà nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huỵên Ba Vì, Thành phố Hà Nội: Ông Đỗ Xuân Hưng – Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 09 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án thụ lý số: 272/2019/TLST - HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2019 về việc " Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2019/QĐST - HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 30 /2019/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự.
Nguyên đơn: Anh Phùng Trần L, sinh năm 1988;
HKTT: Thôn X, xã Y, Ba Vì, TP. Hà Nội;
Bị đơn: Chị Đặng Thị H, sinh năm 1985;
HKTT: Thôn X, xã Y, Ba Vì, TP. Hà Nội;
(anh L có mặt, chị H triệu tập lần thứ 2 vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện,bản tự khai anh Phùng Trần L trình bày: Anh và chị Đặng Thị H kết hôn với nhau ngày 06/7/2009 tại UBND xã Y, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, qua tự do tìm hiểu theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống tại gia đình nhà anh L. Nguyên nhân là do chị H theo học sư phạm X, lên vợ chồng khoảng cách và có mâu thuẫn về quan điểm sống, sinh hoạt, điều kiện kinh tế vợ chồng khó khăn nên vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng ly thân từ năm 2012 cho đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với chị Đặng Thị H.
- Về con chung: có 1 cháu Phùng Trần T – sinh ngày 12/10/2009. Hiện nay cháu đang ở với anh, ly hôn anh xin được tiếp tục nuôi cháu và không yêu cầu chị Đặng Thị H phải trợ cấp nuôi con chung.
- Về tài sản chung: không có.
- Tài sản riêng: không có.
- Công nợ chung: Không có.
Theo biên bản lấy lời khai của bà Đặng Thị D là mẹ đẻ của chị Đặng Thị H trình bày: Anh Phùng Trần L và chị Đặng Thị H có kết hôn ngày kết hôn với nhau ngày 06/7/2009 tại UBND xã Y, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi hai vợ chồng cưới nhau xong thì ở tại gia đình anh L, chị H chuyển khẩu về gia đình anh L, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng như thế nào bà không biết, chỉ nghe chị H nói không thể sống với anh L được nữa. Về con chung: anh L và chị H có 1 cháu Phùng Trần T – sinh ngày 12/10/2009, hiện nay cháu đang ở với anh L. Nay anh L xin ly hôn chị H tôi đồng ý để toà án giải quyết cho các cháu ly hôn. Hiện nay chị H đi làm ăn xa, thi thoảng mới về tôi không biết địa chỉ cụ thể ở đâu.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Ba Vì đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý cho chị Đặng Thị H tại địa chỉ thường trú ở thôn X, xã Y, huyện Ba Vì, TP. Hà Nội, tuy nhiên chị H bất hợp tác không lên làm việc theo sự báo gọi, triệu tập của Tòa án, trốn tránh pháp luật nên Tòa án không lấy được lời khai của chị H và tiến hành thủ tục hòa giải. Qua xác minh tại chính quyền địa phương xã Y, huyện Ba Vì, Hà Nội chính quyền địa phương cho biết: Anh Phùng Trần L và chị Đặng Thị H có kết hôn ngày 06/08/2009 tại UBND xã Y, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống tại gia đình nhà anh Phùng Trần L tại thôn X, xã Y, huyện Ba Vì, TP HN. Qua dư luận của quần chúng nhân dân và xác minh tại thôn, chính quyền địa phương được biết giữa anh Phùng Trần L và chị Đặng Thị H có mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, tuy nhiên hai anh chị không nhờ ban thôn hay chính quyền địa phương can thiệp, giải quyết.Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H đã được chính quyền địa phương phối hợp với Tòa án nhân dân huyện Ba Vì báo gọi nhiều lần nhưng không hợp tác làm việc.
Tại phiên tòa hôm nay anh Phùng Trần L giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn và được nuôi con, chị Đặng Thị H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt tại phiên toà.
Quan ®iÓm cña §¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t t¹i phiªn tßa: ViÖc thô lý vµ gi¶i quyÕt, thu thËp chøng cø trong vô ¸n ly h«n cña Tßa ¸n lµ ®óng theo c¸c quy ®Þnh cña ph¸p luËt. VÒ viÖc gi¶i quyÕt vô ¸n: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Phùng Trần L, cho anh Phùng Trần L được ly hôn với chị Đặng Thị H. Về con chung: có 1 cháu Phùng Trần T – sinh ngày 12/10/2009 Giao cho anh Phùng Trần L tiếp tục nuôi cháu và không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, Tài sản riêng, công nợ chung: chưa giải quyết. Về án phí: anh Phùng Trần L phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng dân sự: anh Phùng Trần L có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, TP Hà Nội giải quyết việc ly hôn. Xét thấy, chị Đặng Thị H là bị đơn có hộ khẩu thường trú tại thôn X, xã Y, huyện Ba Vì, TP Hà Nội. Như vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Phùng Trần L và chị Đặng Thị H là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, anh L và chị H có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, sinh hoạt, điều kiện kinh tế vợ chồng khó khăn nên vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng ly thân từ năm 2012 cho đến nay.Nguyện vọng anh Phùng Trần L xin được ly hôn, chị Đặng Thị H bất hợp tác, không làm việc, lẩn tránh pháp luật, không chấp hành sự triệu tập, báo gọi của Tòa án, không trình bày yêu cầu bằng văn bản với Tòa án, không tham gia hoạt động hòa giải, không thể hiện mong muốn đoàn tụ. Hội đồng xét xử nhận thấy căn cứ vào điều 56 Luật Hôn nhân gia đình nhận thấy: anh Phùng Trần L và chị Đặng Thị H trong quá trình chung sống mâu thuẫn vợ chồng ngày một trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng sống ly thân đã được 7 năm. Vì vậy chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của anh Phùng Trần L.
Về con chung: có 1 con chung là cháu Phùng Trần T sinh ngày 12/10/2019. Hiện cháu đang ở với anh Phùng Trần L. Nguyện vọng của anh L xin được tiếp tục nuôi cháu. Nhận thấy, nguyện vọng nuôi con của anh Phùng Trần L là chính đáng, cháu Phùng Trần T hiện đang ở ổn định với anh và cần có sự chăm sóc, nuôi dưỡng của người cha, trong quá trình giải quyết vụ án, chị Đặng Thị H không trình bày quan điểm của mình về vấn đề con chung do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần phải giao cháu Phùng Trần T cho anh Phùng Trần L tiếp tục nuôi dưỡng đến khi trưởng thành hoặc đến khi có quyết định thay đổi khác.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Phùng Trần L không yêu cầu chị Đặng Thị H phải cấp dưỡng nuôi cháu Phùng Trần T. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ chung: Anh Phùng Trần L trình bày đều không có, chị Đặng Thị H không thể hiện quan điểm về vấn đề tài sản chung, công nợ chung, tài sản riêng. Do vậy, HĐXX chưa xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Phùng Trần L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng Điều 56,82,84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội
XỬ: Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Phùng Trần L. Cho anh Phùng Trần L được ly hôn với chị Đặng Thị H.
- Về con chung: Có 01 con chung là cháu Phùng Trần T sinh ngày 12/10/2016. Giao cháu Phùng Trần T cho anh Phùng Trần L tiếp tục nuôi dưỡng đến khi trưởng thành hoặc cho đến khi có quyết định thay đổi khác.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Đặng Thị H cho đến khi anh Phùng Trần L có yêu cầu hoặc thay đổi khác.
Chị Đặng Thị H có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có quyền ngăn cản.
- Về tài sản chung: Chưa xem xét giải quyết
- Về tài sản riêng; Chưa xem xét giải quyết
- Công nợ chung: Chưa xem xét giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Phùng Trần L phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm. Anh L đã nộp 300.000 đ tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai số 0009357 ngày 10/6/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Vì. Nay khấu trừ và tiền tạm ứng án phí anh L đã nộp.
- Về quyền kháng cáo: Anh Phùng Trần L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Đặng Thị H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - Viện Kiểm sát nhân dân huỵên Ba Vì; - Chi cục THADS huỵên Ba Vì; - UBND xã Đồng Thái - Các đương sự; - Lưu VP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Ngô Thị Thu Hường |