- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Quốc T phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” - phạm tội sử dụng m…"
- Tòa quyết gì? I/ Tuyên bố: Bị cáo Phạm Quốc T phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:45/2018/HSST Ngày: 21/9/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Minh Long
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Phi Tuân
Ông Nguyễn Viết Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Quỳnh Trâm – Thư ký Toà án nhân dân thành
phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Hải Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 34/2018/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
Phạm Quốc T (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 14/6/1994 tại tỉnh Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Khối x, phường Đ, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không ; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm M (1954) và bà Lê Thị H (1956); gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba; Tiền án, tiền sự: Chưa; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/10/2017. Có mặt.
* Người bào chữa cho các bị cáo:
Luật sư Nguyễn Thành Tín – Văn phòng luật sư Đồng Thông, Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng, bào chữa cho bị cáo Phạm Quốc Thịnh. Có mặt.
- Người bị hại:
Nguyễn Thị Hồng H; Nơi cư trú:, thị trấn S, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt
Trần Văn V; Nơi cư trú:, xã Đ, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt
Cao Văn M; Nơi cư trú:, xã Đ, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt
Vi Thùy D; Nơi cư trú: phường M, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt
Đinh Thị T; Nơi cư trú: xã H, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt
Nguyễn Thị T; Nơi cư trú: phường V, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Vắng mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Hồ H1 – Sinh năm 1994; Nơi cư trú:, phường Đ, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt
Nguyễn Văn M – Sinh năm 1994; Nơi cư trú: phường H, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt
Nguyễn Thanh H2 – Sinh năm 1987; Nơi cư trú: phường G, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 04/2015, Phạm Quốc T nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác qua mạng internet nên tìm người nhờ làm thẻ ATM. Ban đầu Thịnh nhờ bạn là Hồ H1 và H1 dẫn T gặp Nguyễn Văn M là bạn của H1. H1 thuyết phục đươc M làm giúp thẻ ATM, T và M đến ngân hàng Agribank, chi nhánh T ở đường Đ, Tp Đà Nẵng đăng ký mở thẻ. Sau khi làm xong thủ tục, M đưa giấy hẹn nhận thẻ ATM cho T và T trả công cho M 1.000.000 đồng ( một triệu đồng ).
Vào tháng 02/2017, T làm quen và nhờ một người( không rõ lai lịch, địa chỉ) mở thẻ ATM Tk số 200120632xxxx tại ngân hàng Agribank chi nhánh quận H, Tp Đà Nẵng mang tên Trịnh Văn H3.
Cuối tháng 02/2017, T quen một người tên H4 ( không rõ lai lịch, địa chỉ ) khi đến quán bar ở Đà Nẵng, sau đó, T rủ H4 và bạn của H4 tên Nguyễn Thanh H2 đi uống cà phê. Thông qua H2, T nhờ H4 mở giúp thẻ ATM ngân hàng Agribank chi nhánh Đà Nẵng, H4 đồng ý. Thịnh đưa cho H4 150.000 đồng chi phí làm thẻ. Khi nhận thẻ ATM từ H4, T đưa cho H4 500.000 đồng để đưa cho H2 theo thoả thuận từ trước.
Sau khi có thẻ ATM trong thời gian từ tháng 04/2015 đến tháng 07/2017 Phạm Quốc T đã sử dụng mạng internet để lừa đảo trúng thưởng đối với 88 người bị hại ở các tỉnh, thành phố trên cả nước chiếm đoạt tổng số tiền 817.222.000 đồng (Tám trăm mười bảy triệu hai trăm hai mười hai nghìn đồng). Trong đó, số tiền các bị hại chuyển vào 03 số tài khoản nêu trên là 792.222.000 đồng và nộp tiền bằng thẻ cào điện thoại là 20.000.000 đồng. Cụ thể:
+ Chuyển qua tài khoản ngân hàng Agribank chi nhánh Thanh Khê, Đà Nẵng số 200320613xxxx mang tên Nguyễn Văn M 586.937.000 đồng (năm trăm tám mươi sáu triệu chín trăm ba mươi bảy nghìn đồng).
+ Chuyển qua tài khoản số 2000206425861 mang tên Nguyễn Thanh H2: 201.635.000 đồng (hai trăm lẻ một triệu sáu trăm ba mười lăm nghìn đồng) chuyển qua tài khoản số 2001206325947 mang tên Trịnh Văn H nhận số tiền 8.650.000 đồng ( tám triệu sáu trăm năm mười nghìn đồng).
Toàn bộ số tiền chuyển vào tài khoản, T đã rút ra tiêu sài cá nhân hết. Đối với thẻ cảo điện thoại T bán lại cho người khác ( không rõ lai lịch ) và nộp vào các trò chơi điện tử trực tuyến để chơi.
Thủ đoạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác được T thực hiện như sau: T tự mua tên miền và hosting tại trang web: www.1and1.com qua hình thức thanh toán bằng Paypal ( dịch vụ thanh toán và chuyển khoản điện tử ) và sử dụng tài khoản mail dùng 01 lần tại trang web: www.10minutemail.net để đăng ký tên miền và hosting. Sau khi có được tên miền và hosting, T lấy các đoạn mã( code ) trên mạng internet và tự chỉnh sửa để lập ra các trang web đăng tin lừa đảo và trúng thưởng như: www.quatanghe2016.com, www.thongbaonhanqua.com, www.thongbaosukien24h.com … Thịnh tự tìm hiểu và sử dụng phần mềm Fplus tải về từ trang web: www.puls24h.com để gửi tin nhắn lừa đảo trúng thưởng cho nhiều người. Phần mềm này có chức năng tự động gửi tin nhắn cho những người có tên trong danh sách bạn bè Facebook, tự động tim kiếm và kết bạn trên Facebook.
Tin nhắn lừa đảo trúng thưởng có nội dung: “ chào bạn” “ tên bị hại” tập đoàn FACEBOOK thông báo. Chúng tôi xin được chúc mừng tài khoản Facebook cá nhân của bạn “tên bị hại” đã rất may mắn nhận được giải nhất từ chương trình quây số mở thưởng tri ân khách hàng quý 01 đầu năm mới 2017 “ Xuân Đinh Dậu” mã số trúng thưởng của bạn là ( NH3279). Giải nhất của bạn bao gồm các phần qua như sau: 01 xe máy honda SH – 125i trị giá 90.000.000 đồng, 01 phiếu quà tặng trị giá 100.000.000. 01 năm sử dụng xăng miễn phí. Các bước tiến hành làm thủ tục nhận giải như sau: và bây giờ bạn “ Tên bị hại” cần truy cập vào website của chương trình theo địa chỉ như sau: www.thongbaosukien24h.com ( hãy lưu ý viết liền và không có dấu ). Hoặc gọi đến số: 0084.905.797.408 gặp anh T ban tư vấn. Thông báo này là thông báo chính thức của chương trình.
Sau khi nhận tin nhắn của T trên Facebook. Nếu bị hại vào các trang web lừa đảo trúng thưởng của T sẽ hiện ra thông báo để bị hại điền thông tin cá nhân vào, các thông tin này sẽ được lưu thành tập tin trên hosting và T có thể xem các tập tin bất cứ lúc nào. Nếu bị hại tin tưởng mình trúng thưởng thật sẽ tiếp tục gọi điện thoại cho T theo số điện thoại đã đăng trên trang web lừa đảo. Ban đầu T sẽ hướng dẫn bị hại nộp phí làm hồ sơ nhận thưởng bằng hình thức mua thẻ cào điện thoại rồi điền số seri và mã nạp của thẻ cào vào trang web lừa đảo do T lập ra. Sau đó, T tiếp tục yêu cầu các bị hại nộp tiền phí vận chuyển và nộp tiền thuế thu nhập cá nhân bằng hình thức chuyển tiền vào tài khoản thẻ ATM của Nguyễn Văn M, Trịnh Văn H và Nguyễn Thanh H4.
T sử dụng điện thoại Nokia 206 màu đen 2 sim và sử dụng xoay vòng 05 sim điện thoại 0905.749.274, 0935.522.080, 0905.797.408, 0972.790.971 và một số di động Viettel loại 11 số ( T không nhớ rõ số ) để gọi điện và nhận các cuộc gọi từ những người bị hại để thuyết phục họ mua thẻ cào điện thoại nộp vào trang web và nộp tiền vào tài khoản ngân hàng; T sử dụng điện thoại Iphone 6s màu vàng để lưu trữ nội dung tin nhắn thông báo trúng thưởng để gửi đến các bị hại.
T sử dụng 02 máy tính xách tay để thực hiện việc lập các trang web lừa đảo và gửi tin nhắn trúng thưởng. Máy vi tính đầu tiên, T mua từ tháng 03/2015 sử dụng đến tháng 02/2016 thì bán lại cho hiệu cầm đồ ở Trần Cao Vân, Đà Nẵng. Sau đó T mua máy vi tính thứ hai qua mạng của một người ở Tp Hồ Chí Minh. T thường thực hiện những hành vi nêu trên tại Ks L, Ks H ở đường Nguyễn Tất Thành, quận Thanh Khê, Tp Đà Nẵng; tại nhà riêng của T hoặc tại nhà trọ ở gần nhà T ở Quảng Nam.
T thực hiện việc rút tiền lừa đảo trúng thưởng trong tài khoản ATM của Nguyễn Văn M, Nguyễn Thanh H4 tại những trạm ATM Agribank quận Hải Châu, Thanh Khê, Cẩm Lệ ở Đà Nẵng và tại Tp Hội An, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Riêng đối với tài khoản mang tên Trịnh Văn H, sau khi mở thẻ, T lừa người bị hại tên Nguyễn Thị Hồng H ( trú tại số x tiểu khu x, thị trấn L, huyện L, tỉnh Hoà Bình ) chuyển vào tài khoản này số tiền 8.650.000 đồng. T trả cho người mở thẻ số tiền 1.000.000 đồng theo thoả thuận và yêu cầu người này đưa thẻ cho T sử dụng nhưng người này hỏi T ai đã chuyển số tiền này vào tài khoản và số tiền này có hợp pháp không, T không trả lời nên người này tự rút số tiền 8.650.000 đồng đưa cho T, không giao thẻ ATM cho thịnh và khoá thẻ.
Đến cuối tháng 07/2017, sợ cơ quan Công an phát hiện nên Phạm Quốc T đã đem laptop, 03 thẻ ATM, 05 sim điện thoại và điện thoại nokia nêu trên vứt xuống sông Vĩnh Điện, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Còn điện thoại Iphone 6s màu vàng T giữ lại sử dụng và hiện đã giao nộp cho cơ quan Cảnh sát điều tra.
Kết quả xác minh xác định được 06 người bị hại với tổng số tiền chiếm đoạt là 77.650.000 đồng. Cụ thể:
1/ Nguyễn Thị Hồng H bị T chiếm đoạt số tiền 22.600.000 đồng. Vào ngày 27/02/2017, T dùng laptop vào điện thoại gửi tin nhắn lừa đảo trúng thưởng cho nhiều người trong đó có bà H. Khi nhận được tin nhắn lừa đảo của T, bà H đã gọi đến số điện thoại di động 0905.797.xxx và được T hướng dẫn nạp 1.500.000 đồng thẻ cảo để làm 03 bộ hồ sơ nhận thưởng. Sáng ngày 28/02/2017, T gọi điện thoại lại cho bà H yêu cầu bà H nộp phí vận chuyển giải thưởng là 8.650.000đồng và nói bà H giữ lại biên lai nộp tiền và thẻ cào để sau nay thanh toán lại. Bà H đã nộp số tiền trên vào tài khoản ngân hàng Agribank số 2001206325947 mang tên Trịnh Văn H theo yêu cầu của T. Sau đó T tiếp tục yêu cầu bà H nộp 12.450.000đồng tiền thuế thu nhập cá nhân vào tài khoản ngân hàng Agribank số 2003206132837 mang tên Nguyễn Văn M. Sau khi kiểm tra thẻ ATM biết được bà H đã chuyển tiền thì T đã cắt liên lạc với bà H.
2/ Trần Văn V; với thủ đoạn như trên, vào các ngày 22 và 23 tháng 06/2015, V bị T nhắn tin lừa đảo trúng thưởng để chíếm đoạt số tiền 15.150.000đồng gồm 1.500.000 đồng thẻ cào điện thoại và 13.6500.000đồng được chuyển vào tài khoản Nguyễn Văn M.
3/ Cao Văn M ngày 23/06/2017 M bị T nhắn tin lừa đảo trúng thưởng và bị chiếm đoạt số tiền 5.500.000 đồng được chuyển vào tài khoản Nguyễn Thanh H2.
4/ Vy Thuỳ D ngày 20/4 và 21/4 năm 2017, chị D bị T nhắn tin lừa đảo trúng thưởng và bị chiếm đoạt số tiền 7.000.000 đồng được chuyển vào tài khoản Nguyễn Thanh H2.
5/ Đinh Thị T ngày 28/03/2017, chị T bị T nhắn tin lừa đảo trúng thưởng và bị chiếm đoạt số tiền 1.500.000 đồng, được chuyển vào tài khoản Nguyễn Thanh H2.
6/ Nguyễn Thị vào các ngày 26 và 27 tháng 04 năm 2017 chị T bị T lừa đảo trúng thưởng để chiếm đoạt số tiền 25.900.000đồng gồm 1.500.000 đồng thẻ cào điện thoại và 24.400.000 đồng được chuyển vào tài khoản Nguyễn Thanh H2.
Các bị hại còn lại (82 người), cơ quan điều tra đã có yêu cầu ngân hàng cung cấp thông tin về họ tên, địa chỉ của người nộp chuyển tiền vào tài khoản Nguyễn Văn M, Nguyễn Thanh H2, tuy nhiên tài liệu ngân hàng không cung cấp thông tin về lai lịch, địa chỉ cụ thể của người chuyển tiền, Phạm Quốc T cũng không biết lai lịch, địa chỉ của những người bị T lừa đảo chiếm đoạt tiền nên cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ số người bị hại này. Mặt khác, cơ quan điều tra đã có thông báo truy tìm bị hại trên báo chí nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả.
Vật chứng tạm giữ: 01 điện thoại iphone 6plus màu vàng đồng có số Imei: 354385068189171( do Thịnh giao nộp )
Về trách nhiệm dân sự: căn cứ khoản 1 điều 48 BLHS đề nghị buộc bị can Phạm Quốc T bồi thường số tiền đã chiếm đoạt cho người bị hại.
Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a khoản 1 điều 47 BLHS đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước một điện thoại Iphone 6 plus màu vàng đồng có số Imei: 35438506818xxxx là công cụ T dùng để gây án.
Quá trình điều tra, truy tố Phạm Quốc T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản cáo trạng số 17/2018/ CT-VKSĐN-P3 ngày 20/6/2018 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Phạm Quốc T về tội "Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản" theo điểm a khoản 4 Điều 290 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản cáo trạng và đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 290 BLHS; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm b, g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt Phạm Quốc T mức án từ 12 năm đến 13 năm tù.
* Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Đề nghị căn cứ Điều 48 BLHS 2015; Điều 585, 589 Bộ luật dân sự 2015.
- Tuyên buộc bị cáo Phạm Quốc T phải bồi thường cho những người bị hại gồm: bà Nguyễn Thị Hồng H là 22.600.000đồng; ông Trần Văn V 15.150.000đồng; ông Cao Văn M 5.500.000đồng; bà Vi Thùy D là 7.000.000đồng; bà Đinh Thị T 1.500.000đồng và bà Nguyễn Thị T là 25.900.000đồng. Tổng cộng bị cáo phải bồi thường là 77.650.000đồng.
* Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 BLHS 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Đề nghị buộc bị cáo nộp lại số tiền 739.572.000đồng thu lợi bất chính của 82 người bị hại không xác định được lai lịch địa chỉ để sung công quỹ Nhà nước; Trong thời gian 1 năm kể từ ngày cơ quan điều tra đăng thông báo tìm kiếm người bị hại nếu có người bị hại đến liên hệ thì trích trả cho bị hại số tiền tương ứng; trường hợp hết thời hạn 01 năm mà không có ai liên hệ thì toàn bộ số tiền trên được sung công quỹ nhà nước.
- Đề nghị tiếp tục quy trữ một điện thoại Iphone 6 plus màu vàng đồng có số Imei: 354385068189171 là công cụ T dùng để gây án và số tiền 3.000.000 đồng mà gia đình bị cáo nộp tại Cục thi hành án dân sự Tp. Đà Nẵng để đảm bảo thi hành án.
* Luật sư Nguyễn Thành Tín bào chữa cho bị cáo Phạm Quốc T thống nhất với tội danh, điểm khoản và điều luật mà VKS đã truy tố đối với các bị cáo. Luật sư đề nghị khi quyết định hình phạt cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ sau: khai báo thành khẩn, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo bị bệnh tim.; mặc dù gia đình khó khăn nhưng bị cáo đã tác động với gia đình nộp tiền khắc phục hậu quả được 3.000.000 đồng. Vì vậy, đề nghị HĐXX áp dụng điểm a, b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 BLHS để xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo mức án nhẹ hơn mức án mà Viện kiểm sát đề nghị.
Tại phiên tòa bị cáo Phạm Quốc T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã kết luận và thừa nhận tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân TP. Đà Nẵng đã truy tố là đúng. Bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đều hợp pháp.
Qua xem xét lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Quốc T tại phiên tòa; quan điểm luận tội của Kiểm sát viên, luận cứ bào chữa của Luật sư và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Vào đầu tháng 4/2015, Phạm Quốc T đã có hành vi nhờ người khác ở thẻ ATM tại Ngân hàng Agribank, chi nhánh Đà Nẵng; thiết lập các trang web lừa đảo trúng thưởng và mạo danh tập đoàn Facebook để gửi tin nhắn đến nhiều tài khoản facebook cá nhân có nội dung trúng thưởng. Vì tưởng thật nên nhiều người đã truy cập vào các trang web của Thịnh hoặc gọi điện thoại cho T và làm theo hướng dẫn như nạp thẻ cào điện thoại, chuyển tiền vào các tài khoản Ngân hàng theo hướng dẫn của Thịnh để được nhận thưởng. Với thủ đoạn trên, trong khoảng thời gian từ tháng 4/2015 đến 7/2017, Thịnh đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 88 người với tổng số tiền 817.222.000 đồng (Tám trăm mười bảy triệu hai trăm hai mươi hai nghìn đồng) sử dụng tiêu xài cá nhân. Như vậy, có căn cứ để xác định Phạm Quốc T phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng Viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 290 BLHS 2015 có khung hình phạt từ 12 năm đến 20 năm tù như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
. Xét tính chất vụ án và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Đây là vụ án có tính chất đặc biệt nghiêm trọng. Quyền sở hữu tài sản luôn được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đến khách thể nói trên đều bị pháp luật trừng trị và xử lý tùy theo tính chất, mức độ do hành vi đó gây ra. Bị cáo Phạm Quốc T nhận thức được điều đó, song vì để có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật bằng cách sử dụng các thẻ ATM Ngân hàng, mạng Internet lập ra những trang web lừa đảo trúng thưởng và mạo danh tập đoàn Facebook gửi tin nhắn trúng thưởng nhằm lừa đảo, chiếm đoạt tiền. Qua đó, bị cáo đã chiếm đoạt của nhiều người bị hại với tổng cộng 817.222.000 đồng. Bị cáo không có việc làm, lấy tài sản chiếm đoạt được để làm nguồn sống chính. Qua kết quả điều tra cũng như những khai nhận tại phiên tòa, ngoài 06 người bị hại đã được làm rõ danh tính thì còn 82 người bị hại khác chưa rõ lai lịch. Cụ thể, Thịnh chiếm đoạt của bà H là 22.600.000đồng; chiếm đoạt của ông V là 15.150.000đồng, chiếm đoạt của ông M là 5.500.000đồng; chiếm đoạt của bà D là 7.000.000đồng; chiếm đoạt của bà T là 1.500.000đồng; chiếm đoạt của bà T là 25.900.000đồng và của 82 người bị hại khác. Vì vậy, ngoài tình tiết định khung quy định tại điểm a khoản 4 điều 250 Bộ luật Hình sự 2015, bị cáo còn phải bị áp dụng thêm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” và “Phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm b, g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến lĩnh vực trật tự an toàn trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông; xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Do đó, đối với bị cáo cần xử phạt nghiêm và cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân: Trong quá trình tố tụng bị cáo đã thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố, tỏ ra ăn năn hối cải; đã tác động gia đình nộp tiền khắc phục hậu quả 3.000.000 đồng tại Cục thi hành án dân sự TP. Đà Nẵng; bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Vì vậy, HĐXX chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát và luật sư áp dụng điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS để xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Riêng tình tiết giảm nhẹ theo điểm a khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 BLHS theo đề nghị của luật sư HĐXX không chấp nhận vì hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, chưa tích cực bồi thường, có 2 tình tiết tăng nặng nên không thể áp dụng Điều 54 BLHS được.
. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có tài sản riêng để đảm bảo thi hành án phạt tiền, bản thân bị cáo còn phải chịu truy nộp số tiền do phạm tội mà có nên HĐXX quyết định không phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
. Đối với Hồ H1, Nguyễn Văn M, Nguyễn Thanh H2 có hành vi giới thiệu, giúp Phạm Quốc T mở thẻ ATM của Ngân hàng Agribank Đà Nẵng nhưng H1, M, H2 lại không biết mục đích phạm tội của Phạm Quốc T nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đà Nẵng không đề cập xử lý và Viện kiểm sát không xem xét là có cơ sở.
. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Đề nghị căn cứ Điều 48 BLHS 2015; Điều 585, 589 Bộ luật dân sự 2015:
- Tuyên buộc bị cáo Phạm Quốc T phải bồi thường cho những người bị hại gồm: bà Nguyễn Thị Hồng H là 22.600.000đồng; ông Trần Văn V 15.150.000đồng; ông Cao Văn M 5.500.000đồng; bà Vi Thùy D là 7.000.000đồng; bà Đinh Thị Thảo 1.500.000đ và bà Nguyễn Thị T là 25.900.000đồng. Tổng cộng bị cáo phải bồi thường là 77.650.000đồng.
. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46,47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tuyên:
- Buộc bị cáo nộp lại số tiền 739.572.000 đồng thu lợi bất chính từ hành vi chiếm đoạt của 82 người bị hại không xác định được lai lịch địa chỉ để sung công quỹ Nhà nước; Trong thời gian 1 năm kể từ ngày cơ quan điều tra đăng thông báo tìm kiếm người bị hại nếu có người bị hại đến liên hệ thì trích trả cho bị hại số tiền tương ứng; trường hợp hết thời hạn 01 năm mà không có ai liên hệ thì toàn bộ số tiền trên được sung công quỹ nhà nước theo quy định tại Điều 228 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Tiếp tục quy trữ một điện thoại Iphone 6 plus màu vàng đồng có số Imei: 35438506818xxxx là công cụ T dùng để gây án và số tiền 3.000.000 đồng mà gia đình bị cáo nộp tại Cục thi hành án dân sự Tp. Đà Nẵng theo biên lai thu số ..ngày tháng năm 2018 để đảm bảo thi hành án.
(Toàn bộ vật chứng trên hiện Cục thi hành án dân sự TP. Đà Nẵng đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/6/2018 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an TP. Đà Nẵng và Cục thi hành án dân sự Tp Đà Nẵng).
. Về án phí: Bị cáo Phạm Quốc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 290 BLHS; điểm b, g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Bộ luật Hình sự 2015
I/ Tuyên bố: Bị cáo Phạm Quốc T phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”;
Xử phạt: Phạm Quốc T 12 (Mười hai) năm tù; thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17/10/2017.
II/ Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Căn cứ Điều 48 BLHS 2015; Điều 585, 589 Bộ luật dân sự 2015:
- Tuyên buộc bị cáo Phạm Quốc T phải bồi thường cho những người bị hại gồm: bà Nguyễn Thị Hồng H là 22.600.000 đồng; ông Trần Văn V 15.150.000 đồng; ông Cao Văn M 5.500.000 đồng; bà Vi Thùy D là 7.000.000 đồng; bà Đinh Thị T 1.500.000 đồng và bà Nguyễn Thị T là 25.900.000 đồng. Tổng cộng bị cáo phải bồi thường là 77.650.000 đồng.
III/ Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46,47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tuyên:
- Buộc bị cáo nộp lại số tiền 739.572.000 đồng thu lợi bất chính từ hành vi chiếm đoạt của 82 người bị hại không xác định được lai lịch địa chỉ để sung công quỹ Nhà nước; Trong thời gian 1 năm kể từ ngày cơ quan điều tra đăng thông báo tìm kiếm người bị hại nếu có người bị hại đến liên hệ thì trích trả cho bị hại số tiền tương ứng; trường hợp hết thời hạn 01 năm mà không có ai liên hệ thì toàn bộ số tiền trên được sung công quỹ nhà nước theo quy định tại Điều 228 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Tiếp tục quy trữ một điện thoại Iphone 6 plus màu vàng đồng có số Imei: 35438506818xxxx là công cụ Thịnh dùng để gây án và số tiền 3.000.000 đồng mà gia đình bị cáo nộp tại Cục thi hành án dân sự Tp. Đà Nẵng để đảm bảo thi hành án.
(Toàn bộ vật chứng trên hiện Cục thi hành án dân sự TP. Đà Nẵng đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/6/2018 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an TP. Đà Nẵng và Cục thi hành án dân sự Tp Đà Nẵng).
IV/ Về án phí: Bị cáo Phạm Quốc T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.882.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
V/ Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay; riêng những người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án. Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND TP Đà Nẵng;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND CC tại Đà Nẵng;
(Đã Ký)
- Phòng HSNV CATPĐN;
- Phòng PC 47- CATPĐN;
- Cục THA TP Đà Nẵng;
- Trại tạm giam công an TP.Đà Nẵng;
- Những người tham gia tố tụng;
- Sở tư pháp thành phố Đà Nẵng
Trần Minh Long
- Lưu hồ sơ.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Đà Nẵng; - Phòng HSNV- CATPĐN - PC 45 - CQCSĐT CA TP. Đà Nẵng; - Cục THA dân sự Tp Đà Nẵng; - Bị cáo, người bị hại; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán - Chủ tọa phiên toà |