- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Viết T - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Viết T (H) phạm tội “ Cướp giật tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐĂK LĂK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2018/HS-ST Ngày 09- 02-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Xuân Đừng và bà Phạm Thị Tuyết Nhung
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Trang - Thư ký Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh ĐắkLắk
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đức Lễ - Kiểm sát viên.
Ngày 09/02/2018, tại trụ sở Toà án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2018/TLST-HS ngày 23/01/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2018/QĐXXST-HS ngày 29/01/2018 đối với các bị cáo:
Vũ Viết T; Tên gọi khác: H; Sinh ngày 18/4/1991; Tại: Tỉnh Đắk Lắk; Nơi đăng ký HKTT: Buôn K, xã Đ, huyện Kr, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở hiện nay: Công ty Nhựa Đức Long, thôn 4, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Viết C và bà Dương Thị Bích H; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam ngày 13/9/2017 cho đến nay. Có mặt
- Bị hại: Đào Thị Mỹ Th – sinh năm 1991
Địa chỉ: 03 N, phường T, TP. B, tỉnh ĐăkLăk. (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phạm Công T1, sinh năm 1992
Địa chỉ: Buôn T B, xã Đ, huyện Kr, Tỉnh Đăk Lăk (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 45 phút, ngày 12 tháng 9 năm 2017, Vũ Viết T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, biển số: 47L1-187.52, màu trắng đen, chạy trên các tuyến đường tại thành phố B, quan sát tìm người dân sơ hở để cướp giật tài sản. Đến khoảng 19 giờ 45 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường M, theo hướng từ đường M về trung tâm thành phố B, thì phát hiện chị Đào Thị Mỹ Th (sinh năm: 1991, trú tại: Số 03 N, phường T, thành phố B) đang đi bộ trên đường M rẽ vào đường N, theo hướng ngược lại trên tay cầm 01 điện thoại di động hiệu Sam sung, Galaxy J7, màu vàng Gold, gắn ốp nhựa màu vàng, nên T đã nảy sinh ý định giật chiếc điện thoại này. T điều khiển xe mô tô vòng lại đi theo phía sau chị Th. Khi đi đến trước số nhà 01 N, phường T, thành phố B. T điều khiển xe, áp sát phía bên phải và dùng tay trái giật lấy Cếc điện thoại của chị Th, rồi nhanh chóng tăng ga tẩu thoát vào một hẻm cụt đường N, thành phố B. Sau đó, T điều khiển xe mô tô trên chạy ra lại đường N thì bị quần chúng nhân dân truy đuổi và dùng gạch, đá ném trúng vào người làm T bị trầy xước tay, chân nhưng T vẫn tiếp tục điều khiển xe mô tô tẩu thoát và đem chiếc điện thoại di động vừa Cướp giật được cất giấu trong người. Trên đường bỏ chạy T đã làm rơi 01 chiếc cặp vi tính xách tay hiệu Dell, bằng vải, màu đen bên trong có tài sản gồm: 01 chiếc máy vi tính xách tay hiệu Dell, màu đen, không gắn pin; 01 giấy chứng minh nhân dân phô tô và 01 sơ yếu lý lịch có dán hình kèm theo đều mang tên Vũ Viết T; 01 sổ hộ khẩu phô tô mang tên Vũ Viết C, sinh năm: 1959, Trú tại: Buôn K, xã Đ, huyện Kr, tỉnh Đắk Lắk. Chị Đào Thị Mỹ Th là người bị hại đã nhặt được những đồ vật, tài sản của T và đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, trình báo và giao nộp tài sản gồm: 01 chiếc cặp vi tính xách tay hiệu Dell, bằng vải, màu đen; 01 chiếc máy vi tính xách tay hiệu Dell, màu đen, không gắn pin; 01 giấy chứng minh nhân dân phô tô và 01 sơ yếu lý lịch có dán hình kèm theo đều mang tên Vũ Viết T; 01 sổ hộ khẩu phô tô mang tên Vũ Viết C. Ngoài ra, chị Th còn giao nộp 01 vỏ hộp điện thoại hiệu Sam sung, Galaxy J7 màu trắng, bằng giấy, imei 355228085277059. Đến ngày 13/9/2017, T đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, đầu thú T1 nguyện giao nộp điện thoại di động hiệu Sam sung, Galaxy J7, màu vàng Gold. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, thu giữ: 01 Cếc xe mô tô nhãn hiệu Airblade, màu trắng-đen, biển số: 47L1-187.52, để phục vụ công tác điều tra
Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 253/KLĐG ngày 25/9/2017, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Sam sung, Galaxy J7, màu vàng Gold, imei1 355228085277059, imei2 355229085277057; trị giá: 4.200.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 39/CT-VKS TP.BMT ngày 22/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo Vũ Viết T về tội “ Cướp giật tài sản” điểm d khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sử a đổi bổ sung năm 2017 để tuyên bố bi ̣ cáo Vũ Viết T pha ̣m tô ̣i “Cướp giật tài sản” và xử pha ̣t bi ̣ cáo từ 04 năm đến 05 năm tù giam.
Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 41, Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 589 Bộ luật dân sự:
- Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, trao trả cho chị Đào Thị Mỹ Th: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Sam sung, Galaxy J7, màu vàng Gold và 01 chiếc hộp điện thoại, màu trắng, bằng giấy, nhãn hiệu Sam sung Galaxy J7; trao trả cho anh Phạm Công T1: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Airblade, màu trắng-đen, biển số: 47L1-187.52, là các chủ sở hữu nhận quản lý, sử dụng.
- Trả lại cho bị cáoVũ Viết T: 01 chiếc máy vi tính xách tay hiệu Dell, màu đen, không gắn pin, là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm công tác thi hành án.
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc cặp vải màu đen; 01 giấy chứng minh nhân dân phô tô và 01 sơ yếu lý lịch có dán hình kèm theo, đều mang tên Vũ Viết T; 01 sổ hộ khẩu phô tô mang tên Vũ Viết C là đồ vật, tài liệu của bị cáo Vũ Viết T, không còn giá trị sử dụng.
Ngoài ra, trong quá trình điều tra vụ án, bị cáo Vũ Viết T khai nhận đã thực hiện 03 vụ Cướp giật tài sản. Hiện chưa xác định nhân thân, lai lịch của các bị hại và chưa truy thu được vật chứng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, tách hành vi trên của bị cáo Vũ Viết T ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau là phù hợp.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo không tranh luận gì thêm mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng một mức án nhẹ nhất vì bị cáo đã ăn năn hối hối hận về hành vi phạm tội của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Viết T ta ̣i phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người biết sự việc và phù hợp với các tài liệu,chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận: Vào 19 giờ 45 phút ngày 12/9/2017, tại trước số nhà 01 N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo Vũ Viết T đã sử dụng xe mô tô biển số 47L1-187.52 cướp giật: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Sam sung, Galaxy J7, màu vàng Gold, của chị Đào Thị Mỹ Th, thì bị phát hiện xử lý. Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 253/KLĐG ngày 25/9/2017, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Sam sung, Galaxy J7, màu vàng Gold, imei1 355228085277059, imei2 355229085277057; trị giá: 4.200.000 đồng. Vì vậy, hành vi chiếm đoạt tài sản là 01 chiếc điện thoại di động của chị Đào Thị Mỹ Th rồi nhanh chóng tẩu thoát đã cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999.
Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo Vũ Viết T về tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự 1999 là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Điều 136 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:
a)………………
d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm.”
Xét tính chất, hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là những người có khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi của bản thân, bị cáo biết được tài sản của người khác là bất khả xâm phạm đến, mọi hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tài sản của người khác đều bị pháp luật nghiêm trị. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến tài sản của người bị hại, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến trật T1 trị an tại địa phương.
Tuy nhiên, sau khi phạm tội, bị cáo đã ra đầu thú; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi pha ̣m tô ̣i của minh đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 ̀ BLHS năm 1999 cần áp dụng khi lượng hinh nhằm thể hiện chính sách khoan
̀
hồng của pháp luật nhà nước ta.
Ta ̣i phiên tòa hôm nay, đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuô ̣t đề nghi ̣ Tòa án áp du ̣ng các tinh tiết tă ̣ng nă ̣ng, giảm nhe ̣ được quy
̀
đi ̣nh ta ̣i điểm s khoản 1 Điều 51 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự năm 2015 được sử a đổi bổ sung
̀
năm 2017. Tuy nhiên HĐXX thấy rằng các tinh tiết này không có lợi cho bi ̣ cáo;
̀
các hành vi pha ̣m tô ̣i của bi ̣ cáo đều xảy ra trướ c 00 giờ 00 phút ngày 01/01/2018; do đó Hô ̣i đồng xét xử vẫn áp du ̣ng các quy đi ̣nh về tinh tiết tăng nă ̣ng, giảm nhe ̣
̀ quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t hinh sự năm 1999 đối vớ i bi ̣ cáo.
̀
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41, Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 589 Bộ luật dân sự:
- Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, trao trả cho chị Đào Thị Mỹ Th: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Sam sung, Galaxy J7, màu vàng Gold và 01 chiếc hộp điện thoại, màu trắng, bằng giấy, nhãn hiệu Sam sung Galaxy J7; trao trả cho anh Phạm Công T1: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Airblade, màu trắng-đen, biển số: 47L1-187.52, là các chủ sở hữu nhận quản lý, sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo Vũ Viết T: 01 chiếc máy vi tính xách tay hiệu Dell, màu đen, không gắn pin, là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm công tác thi hành án.
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc cặp vải màu đen; 01 giấy chứng minh nhân dân phô tô và 01 sơ yếu lý lịch có dán hình kèm theo, đều mang tên Vũ Viết T; 01 sổ hộ khẩu phô tô mang tên Vũ Viết C là đồ vật, tài liệu của bị cáo Vũ Viết T, không còn giá trị sử dụng.
Về á n phi hình sự sơ thẩm: Bị cáo Vũ Viết T phải chi ̣u án phi hình sự sơ
́
́ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 136, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 41; Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;Điều 21, Điều 22 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Viết T (H) phạm tội “ Cướp giật tài sản”
Xử phạt: Vũ Viết T (H) 04 (Bốn) năm tù giam
Thời hạn chấp hành hình phạt tù: Tính từ ngày bị bắt ngày 13/9/2017
Về xử lý vật chứng:
- Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, trao trả cho chị Đào Thị Mỹ Th: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Sam sung, Galaxy J7, màu vàng Gold và 01 chiếc hộp điện thoại, màu trắng, bằng giấy, nhãn hiệu Sam sung Galaxy J7; trao trả cho anh Phạm Công T1: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Airblade, màu trắng-đen, biển số: 47L1-187.52, là các chủ sở hữu nhận quản lý, sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo Vũ Viết T: 01 chiếc máy vi tính xách tay hiệu Dell, màu đen, không gắn pin, là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm công tác thi hành án.
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc cặp vải màu đen; 01 giấy chứng minh nhân dân phô tô và 01 sơ yếu lý lịch có dán hình kèm theo, đều mang tên Vũ Viết T; 01 sổ hộ khẩu phô tô mang tên Vũ Viết C là đồ vật, tài liệu của bị cáo Vũ Viết T, không còn giá trị sử dụng.
( Đặc điểm như biên bản giao nhận tài sản, tang vật ngày 23/01/2018 giữa cơ quan điều Tra Công an Tp. B với chi cục thi hành án dân sự Tp. B)
Về án phi hình sự sơ thẩm: Bị cáo Vũ Viết T phải chi ̣u 200.000 đồng án phi
́
́ hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại, ngườ i có quyền lợi nghia vu ̣̃
liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: -VKSND tỉnh,VKSND TP.BMT ; -TAND tỉnh,Công an TP.BMT; -CCTHA DSTP, THA phạt tù( để thi hành) ; -Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; -Bị cáo; Các đương sự; -Chánh án ; -Lưu: HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Trần Anh Tuấn |