vanban.org

Bản án 45/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 10/05/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/05/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh N.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 23/2018/HS-ST ngày 06 tháng 02 năm 2018 của Toà án nhân dân thành phố Cà M về hình phạt. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh N - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh N.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 344 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2018/HS-PT
Ngày 10 - 5 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết

Các Thẩm phán: Bà Bùi Thị Phương Loan

Bà Châu Minh Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Vũ Phong là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Kông - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 33/2018/TLPT-HS ngày 13 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Minh N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2018/HS-ST ngày 06 tháng 02 năm 2018 của Toà án nhân dân thành phố Cà M.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Minh N, sinh năm 1993; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Khóm 5, Phườ ng 6, thành phố Cà M, tỉnh Cà Mau; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Cha: Nguyễn Viê ̣t Du, sinh năm 1956, trú tại: xã Hòa Th , Tp.Cà M; Mẹ là bà H1 Thị N, sinh năm 1963, trú cùng địa chỉ với bị cáo ; Anh, chị em ruột có 04 người (02 nam, 02 nữ), bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đinh; Vợ là Pha ̣m Thị N H1 và có

̀ 01 người con; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ: 11/5/2017 đến 17/5/2017 chuyển sang tạm giam cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Bùi Văn H, sinh năm 1981. Địa chỉ: Khóm 3, Phường 1, thành phố Cà M, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)

2. Chị Phạm Thị Như H1, sinh năm 1996. Địa chỉ: Lý Thường Kiệt, Khóm 5, Phườ ng 6, thành phố Cà M, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 21 giờ 00 ngày 11 tháng 5 năm 2017, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy kết hợp vớ i Cảnh sát điều tra tội phạm về trâ ̣t tự xa hô ̣̃ i - Công an thành phố Cà M bắt quả tang Nguyễn Minh N, sinh năm 1993 đang đợi đối tượng Bùi Văn H, sinh năm 1981, trú tại khóm 3, phườ ng 1, thành phố Cà M để bán ma túy tại p hía trướ c Khách sa ̣n Á Đ 2 thuô ̣c khu vực ấp Bà Đ, xã Lý Văn L, thành phố Cà M, đi cùng với N có Phạm Thị Như H1, sinh năm 1996 là vợ của N.

Tang vật thu giữ của N nghi là ma tuý gồm : 01 hô ̣p giấy có chữ Cy ekan K15-02, bên trong hô ̣p giấy có 02 bịt ny lon lớ n và nhỏ, bên trong đều có chứ a tinh thể trong suốt da ̣ng rắn có niêm phong và chữ ký của N và H1.

Tại Kết luận giám định số: 149/GĐMT–PC54 ngày 15/5/2017 của Phòng Ky ̃ thuâ ̣t hình sự - Công an tinh Vỉ

nh Long , kết luận: Mẫu tinh thể được niêm phong̃ gửi giám định có tổng trọng lượng là 5,0456 gam có Methamphetamine , Trọng lượng Methamphetamine có trong 5,0456 gam là 3,4875 gam.

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Minh N khai nhận đã thực hiện hành vi bán ma tuý cho Bùi Văn H 02 lần, cụ thể:

Lần thứ 1: Khoảng 15 giờ ngày 11/5/2017, Bùi Văn H dùng số điện thoại 0945.139.411 liên hê ̣ vớ i số điê ̣n thoa ̣i 0949.886.969 của Nguyễn Minh N để mua ma tuý giá 200.000 đồng (loại ma tuý đá), N đồng ý bán và giao ma tuý cho Hận tại tiệm Game trên đường 3/2 thuộc khóm 5, phường 5, Tp. Cà Mau.

Lần thứ 2: Bị cáo đang thực hiện giao dịch thi bi ̣ lực lượng Công an bắt quả

̀ tang và thu giữ tang vâ ̣t.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 23/2018/HS-ST ngày 06 tháng 02 năm 2018 của Toà án nhân dân thành phố Cà M quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh N 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 11/5/2017.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo pháp luật quy định.

Ngày 13 tháng 02 năm 2018, bị cáo Nguyễn Minh N có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Từ khoảng 15 giờ đến 21 giờ ngày 11/5/2017, bị cáo Nguyễn Minh N đã 02 lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý cho Bùi Văn H nhằm thu lợi bất chính số tiền 200.000 đồng. Trong đó lần thứ nhất bị cáo tự khai nhận bán cho H tại tiệm Game trên đường 3/2 thuộc Khóm 5, Phường 5, Tp. Cà M giá 200.000 đồng, còn lần thứ hai đang đợi H tại phía trước K hách sạn Á Đ 2 thuô ̣c khu vực ấp Bà Đ, xã Lý Văn L, thành phố Cà M thì bị lực lượng Công an bắt quả tang và thu giữ tang vâ ̣t.

Do đó, án sơ thẩm xét xử bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) là có căn cứ.

Xét kháng cáo của bị cáo, thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Việc mua bán chất ma tuý trái phép cho người khác sử dụng đã làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người và sự phát triển giống nòi của dân tộc, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và tệ nạn xã hội. Án sơ thẩm đã xem xét để áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là cần thiết, nhằm có thời gian để bị cáo cải tạo trở thành người có ích cho xã hội.

Tuy nhiên, quá trình điều tra thể hiện: Lần thứ nhất bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là do bị cáo tự khai. Do đó, theo chính sách hình sự thay đổi thì bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Nhằm đảm bảo áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét thêm tình tiết “tự thú” để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Quan điểm của Viện kiểm sát kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau không xem xét tình tiết giảm nhẹ “tự thú” theo Bộ luật hình sự năm 2015 cho bị cáo và đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm là chưa phù hợp nên không được chấp nhận.

Án phí hình sự phúc thẩm bị cáo không phải chịu.

Các nội dung khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 344, Điều 345, điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh N.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 23/2018/HS-ST ngày 06 tháng 02 năm 2018 của Toà án nhân dân thành phố Cà M về hình phạt.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, r khoản 1 Điều 51, 54 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh N 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 11/5/2017.

Bị cáo Nguyễn Minh N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ