vanban.org

Bản án 45/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Thạch Thị O. Xử cho chị O ly hôn với anh Võ Công Ch. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Thạch Thi O ly hôn với anh Võ Công Ch"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân:
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÀ ÔN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 18-6-2018
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Văn Năm

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Võ Ngọc Ba

2/ Bà Nguyễn Thị Mến

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Phƣơng Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 131/2018/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Thạch Thị O, sinh năm 1983. (có mặt)

2. Bị đơn: Anh Võ Công Ch, sinh năm 1981. (vắng mặt)

Cùng địa chỉ cư trú: ấp C, xã Th, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 02/4/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Thạch Thị O trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Ch xây dựng hôn nhân vào năm 2000, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Th, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 30/7/2008. Thời gian chung sống được khoảng 17 năm, lúc đầu sống rất hạnh phúc, sau này sống không còn hạnh phúc vì vợ chồng cảm thấy sống không hợp nhau, bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải, anh Ch hay bạo lực gia đình đánh đập vợ con, không cho chị vào nhà ở và vợ chồng đã ly thân khoảng 01 năm nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Ch.

- Về con chung: có hai con chung tên Võ Văn Tr, sinh ngày 09/9/2002 và cháu Võ Thị Trường V, sinh ngày 10/7/2013 hiện đang sống chung với anh Ch, nay chị để anh Ch được tiếp tục nuôi con, chị không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai của bị đơn ngày 31/5/2018 bị đơn anh Võ Công Ch trình bày: Vợ chồng anh thành hôn có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Th, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 30/7/2008. Thời gian chung sống được khoảng 17 năm, lúc đầu sống rất hạnh phúc, sau này sống không còn hạnh phúc, bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải và vợ chồng đã ly thân khoảng 01 năm nay. Nay anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị O. Về con chung: có hai con chung tên Võ Văn Tr, sinh ngày 09/9/2002 và cháu Võ Thị Trường V, sinh ngày 10/7/2013 hiện đang sống chung với anh, nay anh đồng ý tiếp tục nuôi con, không yêu cầu chị O cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh Ch. Về con chung để anh Ch được tiếp tục nuôi hai con chung, chị không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của Viện kiểm sát:

- Về trình tự, thủ tục tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng thể hiện trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa hoàn toàn đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về quan hệ hôn nhân chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thạch Thị O, xử cho chị O ly hôn với anh Võ Công Ch. Về con chung: Giao cháu Võ Văn Tr, sinh ngày 09/9/2002 và cháu Võ Thị Trường V, sinh ngày 10/7/2013 cho anh Võ Công Ch tiếp tục nuôi dưỡng, chị Thạch Thị O không phải cấp dưỡng nuôi con, chị O có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về án phí: buộc nguyên đơn nộp theo quy định tại khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp: Căn cứ đơn xin ly hôn của chị Thạch Thị O yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long giải quyết về ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Võ Công Ch cư trú tại ấp C, xã Th, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án có quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long.

Bị đơn anh Võ Công Ch có đơn xin vắng mặt ngày 31/5/2018. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung:

Về hôn nhân:

Chị Thạch Thị O và anh Võ Công Ch thành hôn vào năm 2000, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Th, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long cấp giấy chứng nhận kết hôn số 84 vào ngày 30/7/2008 nên xem quan hệ hôn nhân giữa chị O và anh Ch là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.

Xét trong quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng anh chị sống có hạnh phúc, sau phát sinh mâu thuẫn, sống không hợp nhau, bất đồng quan điểm và hai người tự cắt đứt quan hệ vợ chồng 01 năm nay không ai tới lui thăm nom giúp đỡ gì và sau khi Tòa án thụ lý đã ra giấy triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để Toà án hoà giải giúp đở đoàn tụ nhưng anh Ch vẫn vắng mặt không lý do và anh Ch có ý kiến là vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cải nhau và đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị O. Như vậy cho thấy tình cảm giữa chị O và anh Ch không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xét yêu cầu ly hôn của chị O là có cơ sở phù hợp Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Xét thấy con chung tên Võ Văn Tr, sinh ngày 09/9/2002 và cháu Võ Thị Trường V, sinh ngày 10/7/2013 hiện đang sống trực tiếp với anh Ch, chị O đồng ý để anh Ch được tiếp tục nuôi dưỡng, chị O không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Ch cũng có ý kiến thống nhất nuôi hai con chung, không yêu cầu chị O cấp dưỡng. Nên Hội đồng xét xử xét giao con chung cho anh Ch tiếp tục nuôi dưỡng, chị O không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp Điều 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Tài sản chung, nợ chung: Chị Thạch Thị O và anh Võ Công Ch không yêu cầu nên Toà án không xem xét, giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Thạch Thị O phải nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và tại Điều 6, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp theo quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 6, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Thạch Thị O. Xử cho chị O ly hôn với anh Võ Công Ch.

2. Về con chung:

Giao cháu Võ Văn Tr, sinh ngày 09/9/2002 và cháu Võ Thị Trường V, sinh ngày 10/7/2013 cho anh Võ Công Ch tiếp tục nuôi dưỡng, chị Thạch Thị O không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị O có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc chị Thạch Thị O nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng). Khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) chị O đã nộp theo biên lai thu số 0014507 ngày 03/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tr. Chị O đã nộp đủ tiền án phí.

4. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ