vanban.org

Bản án 45/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Ngô Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn V

Về nuôi con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Công C sinh ngày 06/01/2005 và Nguyễn Phúc H, sinh ngày 01/3/2010 cho chị Ngô Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của chị T về phần cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hon tra tuan"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Ngô Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn V
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƠN THÀNH
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 16-8- 2018
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ung Thị Ngọc Thanh Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Việt Thành

2. Ông Phạm Xuân Đính

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Thanh Phương là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lệ Thu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 105/2018/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2018 về Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Ngô Thị T, sinh năm 1985 (có mặt)

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ cư trú: Tổ 8, ấp 3B, xã M, huyện C, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 03 tháng 4 năm 2018, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa xét xử nguyên đơn chị Ngô Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị T và anh Nguyễn Văn V chung sống với nhau vào năm 2003 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện L, tỉnh Lâm Đồng theo đúng quy định pháp luật. Trước khi chung sống cả hai đều còn độc thân. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn nguyên nhân do anh V không lo làm ăn, thường hay nhậu nhẹt không lo chăm sóc gia đình. Chị T nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh V vẫn không thay đổi, thậm chí nhiều lần đánh đập chị T khiến chị phải nhập viện điều trị. Hôn nhân giữa anh chị không hòa hợp, vợ chồng không có cùng quan điểm nên thường xuyên xích mích, không có hạnh phúc. Đến tháng 6/2018 thì anh V bỏ ra ngoài sinh sống cho đến nay, vợ chồng chị T, anh V sống ly thân từ đó. Nay chị T nhận thấy cuộc sống chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh V

Về con chung: Quá trình chung sống chị T và anh V có 02 con chung tên Nguyễn Công C sinh ngày 06/01/2005 và Nguyễn Phúc H, sinh ngày 01/3/2010. Nay ly hôn chị T yêu cầu được nuôi cả hai con, yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 3.000.000 đồng/ 01 con. Tuy nhiên, ngày 15/6/2018 chị T có đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con nữa

Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu tòa giải quyết.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tồ tụng cho bị đơn anh Nguyễn Văn V để anh V đến Tòa án làm việc, tham gia phiên họp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia phiên tòa nhưng anh V vắng mặt không có lý do chính đáng. Do đó, Tòa án không thể ghi nhận ý kiến, nguyện vọng của anh V được

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn: Chị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không cung cấp bổ sung thêm chứng cứ tài liệu nào khác.

Bị đơn anh V vắng mặt đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2018; quyết định hoãn phiên tòa số 43/2018/QĐST-HNGĐ ngày 06/7/2018 và quyết định hoãn phiên tòa số 45/2018/QĐST-HNGĐ ngày 25/7/2018 nhưng anh V vắng mặt không có lý do.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến nay nhận thấy Thẩm phán Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của BLTTDS về thủ tục nhận đơn, thụ lý vụ án, thời hiệu khởi kiện, quan hệ pháp luật, thẩm quyền thụ lý vụ án, về tư cách tố tụng, thu thập chứng cứ, thủ tục tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định đưa vụ án xét xử, chuyển hồ sơ và quyết định xét xử cho Viện kiểm sát

Về thủ tục tống đạt văn bản tố tụng: ngày 11/4/2018 tòa án thụ lý vụ án nhưng đến ngày 17/4/2018 mới niêm yết cho bị đơn là vi phạm điều 196 BLTTDS

Về việc chấp hành theo quy đinh pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: thực hiện đúng các quy định tại các điều 239, 240, 241, 243, 244, 247, 248, 249, 250, 254, 258, 260 BL TTDS

Về việc chấp hành theo quy định của pháp luật của các đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tại các Điều 70, 71, 73 BLTTDS. Bị đơn không thực hiện đầy đủ các quy định tại các điều 70, 72 BLTTDS

Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành tham gia phiên tòa đề nghị HĐXX:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ khoản 1 Điều 9, Điều 56, Điều 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị cho chị Ngô Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn V. Về con chung: giao 02 con chung tên Nguyễn Công C sinh ngày 06/01/2005 và Nguyễn Phúc H, sinh ngày 01/3/2010 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con do chị T rút yêu cầu khởi kiện về phần cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị HĐXX căn cứ điều 217, điều 244 đình chỉ yêu cầu khởi kiện về phần này

Đề nghị HĐXX xem xét nghĩa vụ nộp án phí của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

{1)}Theo đơn khởi kiện và yêu cầu tại phiên tòa của nguyên đơn chị Ngô Thị T, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Do bị đơn anh Nguyễn Văn V có nơi cư trú tại tổ 8, ấp 3B, xã M, huyện C, tỉnh Bình Phước. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

Tại phiên tòa vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Văn V nhưng do anh V đã được Tòa án nhiều triệu tập để giải quyết vụ án và xét xử nhưng anh V vắng mặt không có lý do chính đáng do đó căn cứ khoản 3 Điều 228 Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

{2}Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ngô Thị T, Hội đồng xét xử xét thấy:

{2.1}Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị T và anh Nguyễn Văn V tự nguyện sống chung với vào năm chung sống với nhau vào năm 2003 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện L, tỉnh Lâm Đồng nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà hôm nay chị T cho rằng quá trình chung sống vợ chồng anh chị thường xuyên mâu thuẫn do athường xuyên mâu thuẫn nguyên nhân do anh V không lo làm ăn, thường hay nhậu nhẹt không lo chăm sóc gia đình. Chị T nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh V vẫn không thay đổi, thậm chí nhiều lần đánh đập chị T khiến chị phải nhập viện điều trị. Hôn nhân giữa anh chị không hòa hợp, vợ chồng không có cùng quan điểm nên thường xuyên xích mích, không có hạnh phúc. Đến tháng 6/2018 vợ chồng chị T, anh V sống ly thân cho đến nay. Lời trình bày của chị T cũng phù hợp với biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 29/5/2018 (bút lục số 36) của Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành tại chính quyền địa phương. Như vậy, hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định hôn nhân của chị T và anh V đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích chung không thể đạt được, do đó cần chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị T được ly hôn với anh V.

{2.2}Về nuôi con chung: Quá trình chung sống chị T và anh V có 02 con chung tên 02 con chung tên Nguyễn Công C sinh ngày 06/01/2005 và Nguyễn Phúc H, sinh ngày 01/3/2010. Chị T yêu cầu được nuôi cả hai con, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, việc giao con chung cho ai trực tiếp nuôi dưỡng phải xem xét đến điều thu nhập thực tế cũng như ý kiến, nguyện vọng của con trên 7 tuổi. Xét thấy, hiện nay chị T là lao động có thu nhập mỗi tháng khoảng 6.000.000 đồng và tại biên bản lấy lời khai ngày (BL số 27, 28) hai cháu C, H đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Đồng thời từ thời điểm chị T anh V sống ly thân đến nay thì hai cháu C, H vẫn ở với chị T, chị T vẫn đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng các con được sinh sống và học hành đầy đủ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị T về nuôi con chung, giao 02 con chung tên Nguyễn Công C sinh ngày 06/01/2005 và Nguyễn Phúc H, sinh ngày 01/3/2010 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng.

{2.3}Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị T rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về cấp đưỡng nuôi con, việc rút yêu cầu khởi kiện này của chị T là hoàn toàn tự nguyên nên được HĐXX xem xét chấp nhận

{2.4}Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu giải quyết.

{2.5}Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị T phải chịu là 300.000đồng.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 143, Điều 147, Điều 217, Điều 244, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

1. Về hôn nhân: Cho chị Ngô Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn V

2. Về nuôi con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Công C sinh ngày 06/01/2005 và Nguyễn Phúc H, sinh ngày 01/3/2010 cho chị Ngô Thị T trực tiếp nuôi dưỡng.

3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của chị T về phần cấp dưỡng nuôi con chung.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Ngô Thị T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009319 ngày 11/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án theo đúng quy định pháp luật.

Cỡ chữ