- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Khoa, Trần Văn Tài"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! HUYỆN!CHÂU!THÀNH! TỈNH!LONG!AN! ! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:45/2018/HNGĐ-ST Ngày :07-8-2018 V/V Ly hôn giữa bà K và ông T, nuôi con chung. |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!CHÂU!THÀNH!TỈNH!LONG!AN!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Trí!
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Võ Thị Trong
Bà Huỳnh Thị Ngọc Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Duy- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
Ngày 07 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 126/2018/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2018 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2018/QĐXX-ST ngày 24 tháng 7 năm 2018, giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Bà Phạm Thị K. Địa chỉ: ấp V, xã L, huyện T, tỉnh Long An.
-Bị đơn: Ông Trần Văn T. Địa chỉ: ấp V, xã L, huyện T, tỉnh Long An.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Tại đơn khởi kiện đề ngày 22-5-2018 và trong quá trình xét xử, bà Phạm Thị K là nguyên đơn trình bày:
Bà và ông Trần Văn T chung sống với nhau từ năm 1989, có đăng ký kết hôn theo quy định. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian khoảng 22 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do ông T nghen tuông vô cớ. Mặc dù vợ chồng còn chung sống cùng nhà với nhau nhưng tình cảm vợ chồng đã phai nhạt từ hai năm nay và cuộc sống kinh tế tự lo riêng cho mình. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục chung sống có hạnh phúc nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T.
Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Trần Công Trí, sinh ngày 22/10/1990 (đã trưởng thành), Trần Thùy Trâm, sinh ngày 13/10/2004. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi con chung tên Thùy Trâm, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Trần Văn T là bị đơn trình bày: Qua lời trình bày của bà K về thời gian và điều kiện kết hôn là đúng. Về mâu thuẫn vợ chồng là đúng, bà K hay thỉnh thoảng đi chơi mà ông không hay biết, nên ông có những lời lẽ không hay. Nay bà K yêu cầu ly hôn ông không đồng ý ly hôn.
Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Trần Công Trí, sinh ngày 22/10/1990 (trưởng thành), Trần Thùy Trâm, sinh ngày 13/10/2004. Trường hợp phải ly hôn bà K yêu cầu được nuôi con chung tên Thùy Trâm, không yêu cầu ông cấp dưỡng nuôi con, ông đồng ý.
Về tài sản chung: có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà các đương sự không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ, cũng như không yêu cầu đưa thêm người tham gia tố tụng khác và không có yêu cầu gì khác.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
!
Căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1]. Về tố tụng: Bà K yêu cầu ly hôn với ông T, Hội đồng xét xử nhận thấy được quy định tại các điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa bà K và ông T có đăng ký kết hôn nên được xem là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 09 Luật hôn nhân và gia đình.
[3]. Bà K yêu cầu ly hôn với ông T, ông T không đồng ý ly hôn. Xét thấy tại hai phiên hòa giải và tại phiên tòa bà K cương quyết yêu cầu ly hôn với ông T, ông T không đồng ý nhưng ông T không có biện pháp nào để khắc phục tình cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy tình nghĩa vợ chồng giữa bà K và ông T không còn, mục đích hôn nhân không đạt được theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn giữa bà K đối với ông T.
[4]. Về nuôi con chung: Ông T đồng ý giao con chung tên Trần Thùy Trâm, sinh ngày 13/10/2004 cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung tròn 18 tuổi, ông Tkhông phải cấp dưỡng nuôi con chung, nên cần công nhận sự thỏa thuận về nuôi con chung của bà Kvà ông T theo quy định Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5]. Về tài sản chung có, không yêu cầu Tòa án giải quyết và về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét khi nào các bên có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
[6]. Về án phí: Bà K phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH:!
- Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các điều 9, 19, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phạm Thị K với ông Trần Văn T.
2. Về nuôi con chung: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, giao con chung tên Trần Thùy Trâm, sinh ngày 13/10/2004 cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung tròn 18 tuổi, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Không ai được lợi dụng việc thăm nom con hoặc việc trực tiếp nuôi con để cản trở việc nuôi con hoặc việc thăm nom con, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của bên còn lại. Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
3. Về án phí: Bà K phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002288 ngày 07 tháng 6 năm 2018 của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
4. Về kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh - Viện kiểm sát huyện - Chi cục THA dân sự huyện - Các đương sự - UBND xã (phường) nơi đăng ký kết hôn. - Lưu (hồ sơ, án văn) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃKÝ) Nguyễn Bảo Trí |