vanban.org

Bản án 45/2018/HNGĐ-ST — Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ch Nguyễn Th Đ được ly hôn anh Vũ Văn H.

Về con chung: Giao cháu Vũ Quốc Đ, sinh ngày 01/5/2009 cho anh Vũ Văn H trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Vũ Nguyễn Ng c H, sinh ngày 08/8/2011 cho ch Nguyễn Th Đ trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung và có quyền và nghĩa vụ thăm nom con… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Đ - Vũ Văn H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ch Nguyễn Th Đ được ly hôn anh Vũ Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN IM TH NH
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2018/HNGĐ-ST
Ngày 21/12/2018
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con, chia tài sản khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IM TH NH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Văn Minh

2. Bà Nguyễn Th Quy

- Thư ký phiên tòa: Bà Đ Th H nh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện im Thành, tỉnh Hải Dương

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện im Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Th Nhung - iểm sát viên

Ngày 21 tháng 12 năm 2018, t i trụ sở Toà án nhân dân huyện im Thành, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 16/2018/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2018 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số: 63/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/11/2018 và Quyết đ nh hoãn phiên tòa số: 53/2018/QĐST-HNGĐ ngày 12/12/2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ch Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1983; nơi đăng ký thường trú: Thôn P, xã Đ, huyện , tỉnh Hải Dương; nơi ở: Thôn Đ, xã Đ, huyện , tỉnh Hải Dương; có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Nguyễn Thị Đ: Ông Vũ N - Luật sư Văn phòng Luật sư H thuộc Đoàn luật sư tỉnh Hải Dương; có mặt.

2. Bị đơn: Anh Vũ Văn H, sinh năm 1983; nơi đăng ký thường trú, nơi ở: Thôn P, xã Đ, huyện im T, tỉnh Hải Dương; có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Vũ Văn Ch, sinh năm 1951 (là bố của anh Vũ Văn H); đ a chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện , tỉnh Hải Dương; có mặt.

3.2. Bà Bùi Th C, sinh năm 1955 (là mẹ của anh Vũ Văn H); đ a chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện , tỉnh Hải Dương; bà C ủy quyền cho ông Ch làm đ i diện, theo Văn bản ủy quyền ngày 22/8/2018; vắng mặt.

3.3. Anh Vũ Văn H1, sinh năm 1979 (là anh trai của anh Vũ Văn H); đ a chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện , tỉnh Hải Dương; có mặt.

3.4. Ch Nguyễn Th M, sinh năm 1983 (là vợ của anh H1); đ a chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện , tỉnh Hải Dương; ch M ủy quyền cho anh H1 làm đ i diện, theo Văn bản ủy quyền ngày 31/10/2018; có mặt.

4. Người làm chứng: Anh Ph m Văn T, sinh năm 1972; nơi cư trú: Thôn D, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, biên bản hòa giải và các tài liệu có trong hồ sơ, nguyên đơn ch Nguyễn Th Đ và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ch Đ tr nh bày: Ch Đ và anh Vũ Văn H kết hôn vào ngày 15/01/2008, trên cơ sở tự nguyện, được đăng ký kết hôn t i BND xã Đ, huyện , tỉnh Hải Dương. Anh ch chung sống hòa thuận được khoảng 8 năm th phát sinh mâu thu n. Nguyên nhân mâu thu n là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau về suy nghĩ, cách sống. Anh ch hay cãi nhau. Từ tháng 6/2017, anh Vũ Văn H đuổi đánh ch , ch phải về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Nay ch xác đ nh t nh cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống cùng nhau, mâu thu n vợ chồng đã tr m tr ng, không thể hàn gắn được. Ch đề ngh được ly hôn v i anh Vũ Văn H.

B đơn anh Vũ Văn H tr nh bày: Về điều kiện và hoàn cảnh kết hôn đúng như ch Đ đã tr nh bày. Nguyên nhân mâu thu n của vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau, mâu thu n về cách đối xử của ch Đ v i gia đ nh chồng và anh ch em. Nay, ch Đ xin ly hôn, anh đồng ý.

Về con chung: Ch Đ và anh Vũ Văn H có hai con chung là Vũ Quốc Đ, sinh ngày 01/5/2009 và Vũ Nguyễn Ng c H, sinh ngày 08/8/2011. Quan điểm của ch Đ xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu, yêu c u anh Vũ Văn H phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng ch 2.000.000 đồng/tháng/cháu. Nếu, Tòa án giao m i người nuôi một cháu th ch Đ có nguyện v ng nuôi cháu H. Quan điểm của anh Vũ Văn H xin được nuôi cả hai cháu và tự nguyện không yêu c u ch Đ cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Nếu, Tòa án giao m i người nuôi một cháu th anh nuôi cháu nào cũng được.

Về tài sản:

Ch Đ anh Vũ Văn H thống nhất xác đ nh, trong thời kỳ hôn nhân có các tài sản chung, đã được Hội đồng đ nh giá tiến hành đ nh giá vào ngày 22/8/2018 và đ nh giá bổ sung vào ngày 31/10/2018, gồm: 01 nhà ở hai t ng, t ng 1 diện tích 66 m2, t ng 2 diện tích 36 m2, tr giá còn l i = 369.163.000 đồng; nhà phụ gồm bếp và nhà dư i, diện tích 46 m2, tr giá còn l i = 122.003.000 đồng; ph n sân lát g ch đỏ, tr giá còn l i = 3.527.000 đồng; ph n sân bê tông, tr giá còn l i 2.400.000 đồng; tường rào xây g ch chỉ, tr giá còn l i = 665.000 đồng; tường rào xây g ch pa banh, tr giá còn l i = 2.909.000 đồng; hoa thép tường rào, tr giá còn l i = 7.111.000 đồng; móng tường rào hoa thép, tr giá còn l i = 5.005.000 đồng; trụ cổng, tr giá còn l i = 1.206.000 đồng; cánh cổng sắt, tr giá còn l i = 2.439.000 đồng; tr giá đất cát san lấp = 15.000.000 đồng; 04 cây sấu, trong đó 01 cây tr giá = 450.000 đồng, 01 cây tr giá = 220.000 đồng, 01 cây tr giá = 180.000 đồng, 01 cây tr giá = 140.000 đồng; 03 cây nhãn, trong đó 01 cây tr giá = 1.100.000 đồng, 01 cây tr giá = 350.000 đồng, 01 cây tr giá = 150.000 đồng; 02 cây bưởi, trong đó 01 cây tr giá = 420.000 đồng, 01 cây tr giá = 150.000 đồng; 01 cây vú sữa tr giá = 350.000 đồng; 01 cây na tr giá = 20.000 đồng. Các tài sản trên có tổng tr giá = 534.958.000 đồng, thuộc thửa đất số 115 tờ bản đồ số 16 bản đồ đ a chính xã Đ.

Các tài sản chung khác, ch Đ anh Vũ Văn H thống nhất về giá tr , được Hội đồng đ nh giá nhất trí về giá tr , gồm: 01 ti vi Samsung, giá tr còn l i 10.000.000 đồng; 01 bộ bàn ghế g gồm 01 bàn, 01 ghế dài, 02 ghế đơn và 02 đôn, giá tr còn l i 25.000.000 đồng; 01 kệ g để ti vi, giá tr còn l i 13.000.000 đồng; 01 máy điều hòa hai chiều, giá tr còn l i 10.000.000 đồng; 01 bộ dàn karaoke gồm 01 đ u vietki và 02 loa, giá tr còn l i 10.000.000 đồng; 01 xe máy Airblade, biển số: 34B2-xxxxx, giá tr còn l i 26.000.000 đồng; các tài sản này tổng tr giá = 94.000.000 đồng, ch Đ anh Vũ Văn H thống nhất để ch Đ nhận hiện vật. 01 bộ bàn ăn, giá tr còn l i 3.500.000 đồng; tủ bếp và mặt đá, máy hút mùi, giá tr còn l i 20.000.000 đồng; 01 bộ máy vi tính, giá tr còn l i 5.000.000 đồng; 01 máy giặt hitachi, giá tr còn l i 6.000.000 đồng; 01 máy giặt nội đ a, giá tr còn l i 1.000.000 đồng; 01 xe máy Wave @ biển số: 34L2-xxxx, giá tr còn l i 8.000.000 đồng; 04 qu t điện, giá tr còn l i 1.000.000 đồng; tranh thêu gồm 1 bộ tranh tứ quý và đồng hồ tranh, giá tr còn l i 6.000.000 đồng; các tài sản này tổng tr giá = 50.500.000 đồng, ch Đ anh Vũ Văn H thống nhất để anh Vũ Văn H nhận hiện vật.

Ngoài ra, ch Đ anh Vũ Văn H xác đ nh, anh ch có tài sản chung là tiền mặt 30.000.000 đồng, do ch Đ giữ.

Tổng cộng, tr giá tài sản chung nêu trên = 709.458.000 đồng.

Ngoài tài sản chung trên, ch Đ đề ngh còn tài sản chung khác là diện tích đất 224 m2, thuộc thửa đất số 115 tờ bản đồ số 16 bản đồ đ a chính xã Đ, anh ch đã xây dựng nhà ở, công tr nh trên đất. Đất được bố mẹ anh Vũ Văn H là ông Ch bà C cho từ năm 2008 nên anh ch m i xây nhà ở, nhưng không làm thủ tục giấy tờ, chỉ nói miệng. Sau đó, ch có mượn 02 phiếu thu tiền đất của ông Ch vào tháng 8/2016 để đi làm giấy tờ về đất nhưng đến nay chưa được cấp giấy chứng nhận. anh Vũ Văn H xác đ nh, đất không phải là tài sản chung của vợ chồng, đất là của bố mẹ anh. Bố mẹ anh chưa cho đất, chỉ cho phép ở, sinh sống t i thửa đất đó.

Quan điểm của ch Đ: Đề ngh chia tài sản chung theo quy đ nh của pháp luật. Nhà và công tr nh đề ngh phân chia theo pháp luật, ch hưởng bằng giá tr ; còn tài sản là đồ dùng sinh ho t trong gia đ nh, ch đề ngh phân chia như biên bản đ nh giá ngày 22/8/2018. Nếu anh Vũ Văn H trả cho ch chênh lệch tài sản chung = 500.000.000 đồng, ch sẽ để l i toàn bộ tài sản chung cho anh Vũ Văn H.

Quan điểm của anh Vũ Văn H: hông nhất trí trả chênh lệch tài sản cho ch Đ = 500.000.000 đồng. Đề ngh xử theo pháp luật. Nhà và công tr nh phân chia theo pháp luật, còn đồ dùng nhất trí như thỏa thuận t i buổi đ nh giá.

Ngày 03/12/2018, ch Đ có đơn xin nhận tài sản nhà và đất bằng hiện vật.

Về vay nợ: Ch Đ và anh Vũ Văn H đều xác đ nh không cho ai vay và không nợ ai.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, gồm:

Ông Ch và bà C trình bày: Diện tích đất ch Đ anh Vũ Văn H ở là của ông bà, ông bà chỉ cho ở nhờ. Nguồn gốc đất, do ông bà mua của UBND xã từ năm 1988, có giấy chứng nhận của BND xã đã nộp cho Tòa án, ngoài ra không còn giấy tờ g khác, ông bà chưa làm thủ tục chuyển nhượng đất hay tặng cho bất kỳ ai. Đất hiện chưa được cấp giấy chứng nhận. Nếu ch Đ anh Vũ Văn H ly hôn, đề ngh trả l i đất cho ông bà. Tài sản khác của anh Vũ Văn H ch Đ trên đất là việc của anh ch .

Anh H1 và ch M trình bày: Diện tích đất anh ch và ch Đ anh Vũ Văn H sinh sống là một thửa, do bố mẹ anh mua. Bố mẹ anh giao cho anh quản lý từ năm 2003, sau đó vợ chồng anh xây nhà ở trên một ph n thửa đất. Hiện vợ chồng anh v n sống và quản lý toàn bộ thửa đất, bao gồm cả ph n đất anh Vũ Văn H ch Đ xây nhà. Việc anh Vũ Văn H ch Đ xây nhà và sinh sống trên đất là do bố mẹ anh bảo nên anh m i đồng ý. Bố mẹ anh chưa cho anh đất cũng chưa cho bất kỳ ai. Nếu anh Vũ Văn H ch Đ ly hôn th phải trả l i đất cho bố mẹ anh. Hàng năm anh v n đóng thuế toàn bộ thửa đất. T i hồ sơ kỹ thuật thửa đất đo năm 2007, toàn bộ thửa đất đứng tên anh là do bố mẹ anh cho phép đứng tên để anh đóng thuế.

T i phiên toà:

Các đương sự có mặt và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn giữ nguyên quan điểm đã trình bày như trên. Ông Ch, anh H1, ch M và anh Vũ Văn H xác đ nh diện tích đất anh Vũ Văn H ch Đ xây nhà ở và các công tr nh là của ông Ch và bà C; ông bà chỉ cho anh Vũ Văn H ch Đ xây nhà để ở, chưa cho đất; đề ngh anh Vũ Văn H ch Đ trả l i đất cho ông Ch bà C, không đồng ý chia và giao hiện vật nhà, đất cho ch Đ; trường hợp giao nhà cho anh Vũ Văn H thì đối v i diện tích đất gắn liền v i nhà ở và công tr nh trên đất thì để tự gia đình ông Ch giải quyết.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn tr nh bày: Về thửa đất là do BND xã đã bán trái thẩm quyền cho ông Ch, không có hồ sơ. Dựa trên phong tục, tập quán gia đ nh Việt Nam về tặng cho đất, bố mẹ cho con đất th con m i xây nhà kiên cố để ở, gia đ nh ông Ch khai cho mượn, cho ở nhờ nhưng không có thời h n, thời gian. Thể hiện, gia đ nh có thỏa thuận tặng cho đất. Thửa đất đã có ranh gi i hộ anh Vũ Văn H, anh H1. Đề ngh xác đ nh đất của anh Vũ Văn H và ch Đ, đã được bố mẹ cho.

Đ i diện Viện kiểm sát nhân dân huyện im Thành, tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Trong quá tr nh giải quyết vụ án cũng như t i phiên toà, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng thủ tục tố tụng; nguyên đơn, b đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cơ bản chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án, đề ngh Hội đồng xét xử: Về hôn nhân, xử cho ch Đ được ly hôn anh Vũ Văn H. Về nuôi con, giao cháu Đ cho anh Vũ Văn H trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu H cho ch Đ trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi; hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về tài sản: hông chấp nhận yêu c u của ch Đ về việc xác đ nh một ph n quyền sử dụng đất t i thửa số 115 tờ bản đồ số 16, bản đồ đ a chính xã Đ là tài sản chung của ch Đ anh Vũ Văn H. Xác đ nh, ch Đ anh Vũ Văn H có tài sản chung là nhà ở, công tr nh, tài sản gắn liền v i thửa đất nêu trên và các tài sản khác là đồ dùng gia đình đã được đ nh giá và 30.000.000 đồng tiền mặt, tổng tr giá tài sản chung là 709.458.000 đồng. Đề ngh giao nhà ở, các tài sản gắn liền v i đất cho anh Vũ Văn H được sở hữu, các tài sản đồ dùng giao hiện vật cho các bên theo sự thỏa thuận t i biên bản đ nh giá. Buộc anh Vũ Văn H có nghĩa vụ chia trả chênh lệch tài sản chung cho ch Đ. Buộc ông Ch bà C trích trả một ph n công sức quản lý, duy tr thửa đất cho ch Đ là 33.600.000 đồng. Về án phí, chi phí thẩm đ nh, đ nh giá tài sản: Buộc các đương sự phải ch u án phí, chi phí thẩm đ nh, đ nh giá tài sản theo quy đ nh của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà C được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa nhiều l n nhưng vắng mặt, bà C ủy quyền cho ông Ch làm đ i diện. Căn cứ khoản 2 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án xét xử vắng mặt bà C.

Về hôn nhân: Ch Nguyễn Th Đ và anh Vũ Văn H kết hôn vào năm 2008, việc kết hôn tuân thủ các điều kiện kết hôn theo luật đ nh, được xác nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh ch chung sống đến tháng 6/2017 th phát sinh mâu thu n, nguyên nhân là do không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Anh ch đã tự cắt đứt quan hệ về t nh cảm và kinh tế từ đó đến nay. Ch Đ xác đ nh t nh cảm vợ chồng không còn và đề ngh xin được ly hôn, anh Vũ Văn H nhất trí. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa ch Đ và anh Vũ Văn H đã lâm vào t nh tr ng tr m tr ng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đ t được. V vậy, Toà án chấp nhận yêu c u của ch Nguyễn Th Đ xin được ly hôn anh Vũ Văn H là phù hợp v i quy đ nh t i Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đ nh năm 2014.

Về con chung: Ch Đ và anh Vũ Văn H có hai con chung là Vũ Quốc Đ, sinh ngày 01/5/2009 và Vũ Nguyễn Ng c H, sinh ngày 08/8/2011. Nay ly hôn cả hai đương sự đều đề ngh xin được nuôi cả hai cháu. Cháu Đ có nguyện v ng được ở v i anh Vũ Văn H, cháu H có nguyện v ng được ở v i ch Đ. Xét nguyện v ng xin được nuôi con của các đương sự là chính đáng. Ch Đ và anh Vũ Văn H đều có công việc, thu nhập ổn đ nh. Anh ch đều đủ điều kiện trực tiếp nuôi con. Để đảm bảo quyền lợi của các đương sự và quyền lợi về m i mặt và sự phát triển ổn đ nh của cháu Đ và cháu H; Toà án giao cháu Đ cho anh Vũ Văn H, giao cháu H cho ch Đ được trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi là phù hợp v i quy đ nh t i Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đ nh năm 2014. M i đương sự nuôi một con chung nên không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Xét yêu c u của ch Nguyễn Th Đ về việc xác đ nh diện tích đất anh Vũ Văn H và ch Đ xây nhà ở và các công trình trên đất là tài sản chung của ch và anh Vũ Văn H, th thấy: Ch Đ trình bày nguồn gốc đất là của bố mẹ anh Vũ Văn H (là ông Ch bà C) đã nói cho anh ch nên anh ch m i xây nhà ở. Tòa án đã xác minh về nguồn gốc, quá tr nh sử dụng đất, được UBND xã Đ cung cấp: Trư c năm 2007, BND xã không có tài liệu nào về hồ sơ đ a chính đối v i thửa đất số 115, tờ bản đồ số 16, diện tích 477 m2 t i thôn P, xã Đ, huyện , tỉnh Hải Dương. Căn cứ phiếu thu số 38 ngày 11/12/1999, số tiền nộp là 5.000.000 đồng, nội dung là cấp quyền sử dụng đất và phiếu thu số 55 ngày 02/02/2000, số tiền là 4.000.000 đồng, nội dung là chuyển d ch đất, đều thể hiện đứng tên ông Vũ Văn Ch. Qua quá tr nh sử dụng đất, năm 2007 được đo đ c kê khai đứng tên anh Vũ Văn H1, xác đ nh là thửa đất số 115, tờ bản đồ số 16, diện tích 477 m2. Hiện tr ng thửa đất trên đã được phân làm 2 thửa riêng biệt, có tường bao phân đ nh, trong đó 1 thửa vợ chồng anh Vũ Văn H1 quản lý sử dụng, diện tích 253 m2, 1 thửa vợ chồng anh Vũ Văn H quản lý sử dụng, diện tích 224 m2. Việc tách thửa là do gia đ nh ông Ch, anh H1, anh Vũ Văn H tự tách, chưa làm thủ tục v i chính quyền. Từ trư c đến nay (ngày 14/9/2018), BND xã chưa nhận được giấy tờ chuyển nhượng hay tặng cho liên quan đến thửa đất trên. Hiện thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất không có tranh chấp, không vi ph m quy ho ch, thuộc lo i đất thổ cư. Hiện, sổ sách về đ a chính của BND xã chỉ lưu hồ sơ kỹ thuật thửa đất đo vẽ năm 2007, ngoài ra không có tài liệu nào khác. Việc sử dụng đất, căn cứ vào hai phiếu thu nộp tiền nêu trên, BND xã xác đ nh ông Ch quản lý sử dụng đất từ năm 1999. Đến năm 2007, được kê khai sử dụng là anh Vũ Văn H1. Sau năm 2007, gia đ nh có chia tách cho vợ chồng anh Vũ Văn H ch Đ là tự do gia đ nh chia tách. Trường hợp, gia đ nh ông Ch, anh H1, anh Vũ Văn H xin cấp giấy chứng nhận th phải có đơn và căn cứ vào hồ sơ ban đ u phiếu thu, sau đó hội đồng xét duyệt đất đai của xã h p xét duyệt cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người nộp tiền. Ông Ch, bà C, anh H1 ch M và anh Vũ Văn H đều tr nh bày, toàn bộ diện tích đất trên thuộc quyền sử dụng của ông Ch và bà C, chưa cho tặng đối v i ch Đ anh Vũ Văn H. Như vậy, ngoài lời khai duy nhất của ch Đ, không có căn cứ xác đ nh một ph n diện tích của thửa đất trên (224 m2) là tài sản chung của ch Đ anh Vũ Văn H nên Tòa án không chấp nhận yêu c u của ch Đ.

Ông Ch xác đ nh thửa đất số 115 tờ bản đồ số 16, do ông nhận chuyển nhượng của BND xã Đ từ năm 1988, được BND xã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp số: 54 C/N ngày 18/11/1988. Qua xác minh, UBND xã Đ cung cấp, Giấy chứng nhận này chứng nhận cho thửa đất hiện t i ông Ch bà C đang quản lý, sử dụng, không liên quan đến thửa đất số 115 tờ bản đồ 16 mà vợ chồng anh Vũ Văn H ch Đ, anh H1 ch M quản lý, sử dụng nên Tòa án không xem xét về Giấy chứng nhận trên trong vụ án này.

Căn cứ lời khai xác nhận của ch Đ và anh Vũ Văn H về tài sản chung, đã được Hội đồng đ nh giá tiến hành đ nh giá ngày 22/8/2018 và đ nh giá bổ sung vào ngày 31/10/2018, có đủ căn cứ xác nhận ch Đ anh Vũ Văn H có các tài sản chung là nhà ở, công tr nh, tài sản gắn liền v i thửa đất số 115 tờ bản đồ số 16, bản đồ đ a chính xã Đ, tổng tr giá = 534.958.000 đồng, các tài sản khác là đồ dùng gia đ nh tổng tr giá = 144.500.000 đồng và 30.000.000 đồng tiền mặt (do chị Đ giữ). Tổng cộng, tr giá tài sản chung = 709.458.000 đồng. Nay, anh ch chia tài sản chung khi ly hôn, hai bên không xác đ nh được ph n tài sản và công sức đóng góp của m nh, do vậy ph n tài sản chung này. Toà án chia đôi cho m i người được hưởng 1/2 = 354.729.000 đồng.

Xem xét yêu c u chia nhà ở, đất bằng hiện vật của các đương sự th thấy: Căn nhà xây dựng kiên cố hai t ng, t ng 1 diện tích 66 m2, t ng 2 diện tích 36 m2. Nhà ở nằm giữa ph n diện tích đất 224 m2 của thửa đất số 115 tờ bản đồ số 16 bản đồ đ a chính xã Đ. Nếu chia d c hoặc chia ngang ph n đất này, sẽ chia vào nhà ở, sẽ phá vỡ kết cấu chung của ngôi nhà, làm mất giá tr sử dụng, gây khó khăn, phức t p cho các đương sự và còn gây khó khăn cho công tác thi hành án. V vậy, để giữ nguyên hiện tr ng của căn nhà th c n giao cho một bên sở hữu nhà; bên nào nhận hiện vật có giá tr cao sẽ trả chênh lệch tài sản chung cho bên kia bằng tiền. Xét các tài sản là nhà ở, công tr nh, tài sản gắn liền v i đất được xây dựng trên đất của ông Ch bà C (là bố mẹ đẻ của anh Vũ Văn H). Do đó, Toà án giao cho anh Vũ Văn H được nhận các tài sản này bằng hiện vật. Chấp nhận sự tự nguyện của ông Ch bà C, anh H1 ch M và anh Vũ Văn H, về quyền sử dụng ph n của ông Ch bà C có các tài sản trên đất mà anh Vũ Văn H được giao bằng hiện vật để gia đình ông Ch tự thoả thuận giải quyết. Ngoài ra, giao cho anh Vũ Văn H được sở hữu 01 bộ bàn ăn, giá tr còn l i 3.500.000 đồng; tủ bếp và mặt đá, máy hút mùi, giá tr còn l i 20.000.000 đồng; 01 bộ máy vi tính, giá tr còn l i 5.000.000 đồng; 01 máy giặt hitachi, giá tr còn l i 6.000.000 đồng; 01 máy giặt nội đ a, giá tr còn l i 1.000.000 đồng; 01 xe máy Wave @ biển số: 34L2-xxxx, giá tr còn l i 8.000.000 đồng; 04 qu t điện, giá tr còn l i 1.000.000 đồng; tranh thêu gồm 1 bộ tranh tứ quý và đồng hồ tranh, giá tr còn l i 6.000.000 đồng; các tài sản này tổng tr giá = 50.500.000 đồng. Tổng tr giá tài sản chung, anh Vũ Văn H được giao bằng hiện vật là 585.458.000 đồng.

Giao cho ch Đ được sở hữu các tài sản chung còn l i bằng hiện vật, tổng tr giá là = 94.000.000 đồng và số tiền do ch Đ giữ 30.000.000 đồng. Tổng cộng, ch Đ được giao bằng hiện vật, tr giá = 124.000.000 đồng.

Anh Vũ Văn H được giao tài sản bằng hiện vật có giá tr cao hơn ch Đ nên có trách nhiệm chia trả chênh lệch tài sản chung cho ch Đ bằng tiền là 230.729.000 đồng.

Ch Đ anh Vũ Văn H là vợ chồng và quản lý sử dụng 224 m2 đất từ năm 2008 đến năm 2017, diện tích đất xác đ nh không phải là tài sản chung của anh ch mà là tài sản của bố mẹ anh Vũ Văn H là ông Ch bà C. Anh ch không có quyền sử dụng đất chung v i gia đình anh Vũ Văn H nhưng có công sức trong việc quản lý, duy tr , phát triển tài sản là quyền sử dụng đất của gia đình anh Vũ Văn H. Nay anh ch chia tài sản khi ly hôn, Toà án buộc ông Ch bà C là chủ sử dụng thửa đất (trị giá đất = 224 m2 x 6.000.000 đồng/m2 = 1.344.000.000 đồng) áng trích một ph n giá tr đất cho ch Đ anh Vũ Văn H là 67.200.000 đồng, trong đó chia cho ch Đ được hưởng 33.600.000 đồng.

Về án phí: Ch Đ có đơn yêu c u ly hôn nên phải ch u án phí dân sự sơ thẩm ly hôn. Ch Đ anh Vũ Văn H phải ch u án phí chia tài sản chung theo quy đ nh.

Về chi phí thẩm đ nh, đ nh giá tài sản: Ch Đ anh Vũ Văn H cùng phải có nghĩa vụ ch u chi phí thẩm đ nh, đ nh giá tài sản. Ch Đ đã nộp 3.000.000 đồng, anh Vũ Văn H đã nộp 1.500.000 đồng nên anh Vũ Văn H có nghĩa vụ trả cho ch Đ là 750.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 59, Điều 61, Điều 62, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đ nh năm 2014; Điều 357 của Bộ luật Dân sự; Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166 và khoản 2 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Ngh quyết số: 326/2016/ BTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về hôn nhân: Cho ch Nguyễn Th Đ được ly hôn anh Vũ Văn H.

2. Về con chung: Giao cháu Vũ Quốc Đ, sinh ngày 01/5/2009 cho anh Vũ Văn H trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Vũ Nguyễn Ng c H, sinh ngày 08/8/2011 cho ch Nguyễn Th Đ trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung và có quyền và nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

3. Về tài sản:

3.1 hông chấp nhận yêu c u của ch Nguyễn Th Đ về việc xác đ nh một ph n diện tích đất ở (224m2) t i thửa đất số 115 tờ bản đồ số 16 bản đồ đ a chính xã Đ là tài sản chung của anh Vũ Văn H và ch Đ.

3.2. Xác nhận ch Đ anh Vũ Văn H có khối tài sản chung là: Nhà ở và tài sản, công tr nh xây dựng trên thửa đất số 115 tờ bản đồ số 16 bản đồ đ a chính xã Đ, tr giá là 534.958.000 đồng; các tài sản khác, tr giá 144.500.000 đồng và số tiền 30.000.000 đồng (chị Đ giữ tiền). Tổng cộng, tr giá tài sản chung là: 709.458.000 đồng. Chia cho ch Đ và anh Vũ Văn H, m i người được hưởng 1/2 tr giá tài sản chung = 354.729.000 đồng.

- Giao cho anh Vũ Văn H được sở hữu: Nhà ở, công tr nh, tài sản trên thửa đất số 115 tờ bản đồ số 16 bản đồ đ a chính xã Đ, gồm: 01 nhà ở hai t ng, t ng 1 diện tích 66 m2, t ng 2 diện tích 36 m2, tr giá còn l i = 369.163.000 đồng; nhà phụ gồm bếp và nhà dư i, diện tích 46 m2, tr giá còn l i = 122.003.000 đồng; ph n sân lát g ch đỏ, tr giá còn l i = 3.527.000 đồng; ph n sân bê tông, tr giá còn l i = 2.400.000 đồng; tường rào xây g ch chỉ, tr giá còn l i = 665.000 đồng; tường rào xây g ch pa banh, tr giá còn l i = 2.909.000 đồng; hoa thép tường rào, tr giá còn l i = 7.111.000 đồng; móng tường rào hoa thép, tr giá còn l i = 5.005.000 đồng; trụ cổng, tr giá còn l i = 1.206.000 đồng; cánh cổng sắt, tr giá còn l i = 2.439.000 đồng; tr giá đất cát san lấp = 15.000.000 đồng; 04 cây sấu, trong đó 01 cây tr giá 450.000 đồng, 01 cây tr giá 220.000 đồng, 01 cây tr giá 180.000 đồng, 01 cây tr giá 140.000 đồng; 03 cây nhãn, trong đó 01 cây tr giá 1.100.000 đồng, 01 cây tr giá 350.000 đồng, 01 cây tr giá 150.000 đồng; 02 cây bưởi, trong đó 01 cây tr giá 420.000 đồng, 01 cây tr giá 150.000 đồng; 01 cây vú sữa tr giá 350.000 đồng; 01 cây na tr giá 20.000 đông. Các tài sản trên có tổng tr giá = 534.958.000 đồng. Giao cho anh Vũ Văn H được sở hữu 01 bộ bàn ăn, giá tr còn l i 3.500.000 đồng; tủ bếp và mặt đá, máy hút mùi, giá tr còn l i 20.000.000 đồng; 01 bộ máy vi tính, giá tr còn l i 5.000.000 đồng; 01 máy giặt hitachi, giá tr còn l i 6.000.000 đồng; 01 máy giặt nội đ a, giá tr còn l i 1.000.000 đồng; 01 xe máy Wave @ biển số: 34L2-xxxx, giá tr còn l i 8.000.000 đồng; 04 qu t điện, giá tr còn l i 1.000.000 đồng; tranh thêu gồm 1 bộ tranh tứ quý và đồng hồ tranh, giá tr còn l i 6.000.000 đồng. Tổng tr giá tài sản, anh Vũ Văn H được giao bằng hiện vật là 585.458.000 đồng. Chấp nhận sự tự nguyện của ông Ch bà C, anh H1 ch M và anh Vũ Văn H, để gia đình ông Ch tự thoả thuận giải quyết về quyền sử dụng ph n đất ở (224m2) t i thửa đất số 115 tờ bản đồ số 16 bản đồ đ a chính xã Đ, có các tài sản của anh Vũ Văn H được giao nằm trên đất của ông Ch bà C. Gia đ nh ông Ch có nghĩa vụ làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất và thực hiện nghĩa vụ về đất v i Nhà nư c.

- Giao cho ch Đ được sở hữu các tài sản, gồm: 01 ti vi Samsung, giá tr còn l i 10.000.000 đồng; 01 bộ bàn ghế g gồm 01 bàn, 01 ghế dài, 02 ghế đơn và 02 đôn, giá tr còn l i 25.000.000 đồng; 01 kệ g để ti vi, giá tr còn l i 13.000.000 đồng; 01 máy điều hòa hai chiều, giá tr còn l i 10.000.000 đồng; 01 bộ dàn karaoke gồm 01 đ u vietki và 02 loa, giá tr còn l i 10.000.000 đồng; 01 xe máy Airblade, biển số: 34B2-xxxxx, giá tr còn l i 26.000.000 đồng và số tiền 30.000.000 đồng. Tổng tr giá tài sản, ch Đ được giao bằng hiện vật là 124.000.000 đồng.

- Anh Vũ Văn H có nghĩa vụ trả chênh lệch tài sản chung cho ch Đ bằng tiền là 230.729.000 đồng.

- Ông Ch và bà C có nghĩa vụ trả cho ch Đ 33.600.000 đồng tiền công sức về quản lý, duy trì và phát triển một ph n thửa đất.

ể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu c u thi hành án, bên có nghĩa vụ chậm trả tiền th còn phải trả lãi đối v i số tiền chậm trả tương ứng v i thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy đ nh t i khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.

4. Án phí:

Ch Nguyễn Th Đ phải ch u án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền t m ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số: AA/2016/0000709 ngày 22/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện im Thành, tỉnh Hải Dương. Ch Đ đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.

Ch Đ, anh Vũ Văn H, m i người phải nộp án phí sơ thẩm chia tài sản chung là 17.736.000 đồng. Ch Đ được đối trừ vào số tiền t m ứng án phí đã nộp 10.000.000 đồng theo biên lai số: AA/2016/0000710 ngày 22/01/2018 và 10.000.000 đồng theo biên lai số: AA/2016/0000835 ngày 23/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện im Thành, tỉnh Hải Dương; ch Đ được hoàn trả l i số tiền 2.264.000 đồng.

5. Về chi phí thẩm đ nh, đ nh giá: Anh Vũ Văn H có nghĩa vụ trả cho ch Đ 750.000 đồng tiền chi phí thẩm đ nh, đ nh giá tài sản.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong h n 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, đối v i đương sự vắng mặt t i phiên toà th thời h n kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ