vanban.org

Bản án 45/2018/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Đỗ Thị T1, Chị Nguyễn Huỳnh Quế A cùng liên đới trả cho Bà Trần Thị Thanh T số tiền 155.000.000 đồng tiền nợ gốc, không yêu cầu tính lãi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Tuyền - Tính"
  • Tòa quyết gì? Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 430 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2018/DS-ST
Ngày 04-9-2018
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tấn Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Thái Văn Lộc.

2. Bà Nguyễn Thị Kim Linh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Hải là Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh

tham gia phiên tòa: Ông Lê Xuân Hồng Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành,

tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 216/2018/TLST- DS

ngày 10 tháng 7 năm 2018 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán” theo Quyết định

đưa vụ án ra xét xử số: 61/2018/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 8 năm 2018 giữa

các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh T, sinh năm 1968 (Có mặt).

Địa chỉ: ấp X, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh.

2. Bị đơn:

2.1. Bà Đỗ Thị T1, sinh năm 1959 (có mặt).

Địa chỉ: ấp N, xã L, huyện C, tỉnh Tây Ninh.

2.2. Chị Nguyễn Huỳnh Quế A, sinh năm 1981 (Có mặt).

Địa chỉ: ấp X, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 26/6/2018, trong quá trình giải quyết vụ án

nguyên đơn là Bà Trần Thị Thanh T trình bày:

Vào năm 2015 (bà và bà T1 thỏa thuận bằng miệng với nhau khi nào

không mua gạo nữa thì phải trả hết tiền), bắt đầu thực hiện việc mua bán gạo với bà Đỗ Thị T1, anh Nguyễn Thanh V, Chị Nguyễn Huỳnh Quế A (Gia đình bà Tính bán gạo và làm lò bún). Thời gian đầu mua bán trả tiền đầy đủ nhưng sau đó do quen biết nên bà T1, Chị Nguyễn Huỳnh Quế A, anh Nguyễn Thanh V mua nhưng không trả đủ tiền và sau đó thì mua thiếu, bà đã đòi nhiều lần nhưng không trả. Tổng số tiền bà T1, chị Quế A và anh Nguyễn Thanh V còn nợ là 157.000.000 đồng. Trong quá trình làm việc và tại phiên hòa giải, Bà Trần Thị Thanh T thay đổi yêu cầu, chỉ yêu cầu bà Đỗ Thị T1, Chị Nguyễn Huỳnh Quế A liên đới trả 155.000.000 đồng, không yêu cầu anh Nguyễn Thanh Vũ cùng trả. Ngoài ra, bà không có yêu cầu hay ý kiến gì khác.

Tại phiên tòa, Bà Trần Thị Thanh T yêu cầu bà Đỗ Thị T1, Chị Nguyễn

Huỳnh Quế A liên đới trả 155.000.000 đồng.

Tại bản tự khai đề ngày 23/7/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án bị

đơn là bà Đỗ Thị T1 trình bày:

Vào năm 2015, bà và Bà Trần Thị Thanh T có giao dịch mua bán gạo với

nhau, hai bên thỏa thuận miệng là mua bán gối đầu (mua chuyến sau trả chuyến trước). Bà mua gạo về làm bún (bà mở lò bún tại nhà). Trong quá trình mua bán do làm ăn thất bại (gạo làm ra bún kém chất lượng nên bán không được) nên bà trả không đủ tiền theo thỏa thuận. Bà có yêu cầu Bà Trần Thị Thanh T giao gạo đúng chất lượng nhưng Bà Trần Thị Thanh T không giao đúng theo yêu cầu. Bà trực tiếp sản xuất nhưng đến đầu năm 2017, do sức khỏe không đảm bảo nên không trực tiếp mua gạo nữa mà giao lại cho Nguyễn Huỳnh Quế Anh (con dâu của bà) trực tiếp mua gạo và sản xuất bún. Khi bà không trực tiếp sản xuất thì giữa bà, Chị Nguyễn Huỳnh Quế A và Bà Trần Thị Thanh T không chốt lại nợ mà chị Quế Anh tiếp tục mua gạo bà T và sản xuất bún tiếp. Trong quá trình mua bán, thì Chị Nguyễn Huỳnh Quế A là người trực tiếp nhận gạo và giao tiền; Nếu Nguyễn Huỳnh Quế Anh không đi thì anh Nguyễn Thanh V đi trả thay, cả hai bên đều lập sổ theo dõi. Nay bà T yêu cầu bà và Chị Nguyễn Huỳnh Quế A trả 155.000.000 đồng tiền mua gạo còn nợ, bà đồng ý nhưng do hoàn cảnh gia đình đang gặp khó khăn nên yêu cầu dược trả dần hàng tháng là 3.000.000 đồng cho đến khi tất nợ. Hơn nữa, việc mua bán bún thì người mua bún hiện còn nợ bà. Do đó, nếu người mua bún trả nợ cho bà thì bà sẽ trả cho bà T hàng tháng nhiều hơn 3.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, bà đồng ý cùng Chị Nguyễn Huỳnh Quế A trả 155.000.000

đồng nhưng yêu cầu được trả dần hàng tháng là 3.000.000 đồng.

Tại bản tự khai ngày 23/7/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn

là Chị Nguyễn Huỳnh Quế A trình bày: Vào khoảng năm 2015, bà Đỗ Thị T1 và

bà Tuyền có giao dịch mua bán gạo với nhau, hai bên thỏa thuận là mua bán gối

đầu (mua chuyến sau trả chuyến trước). Đến đầu năm 2017 thì bà Đỗ Thị T1

không mua gạo bà T nữa mà giao lại việc mua bán và sản xuất bún cho chị. Khi

bà Đỗ Thị T1 không mua gạo và giao lại việc sản xuất cho chị thì không chốt lại

số tiền nợ với bà T mà giao chị tiếp tục lấy gạo và sản xuất bún. Trong quá trình

mua bán do làm ăn thất bại (gạo làm ra bún kém chất lượng nên bán không

được) nên trả không đủ tiền. Nay bà T yêu cầu chị và bà Đỗ Thị T1 cùng trả

155.000.000 đồng tiền mua gạo còn nợ, chị đồng ý nhưng do hoàn cảnh gia đình

đang gặp khó khăn nên yêu cầu dược trả dần hàng tháng là 3.000.000 đồng cho

đến khi tất nợ.

Tại phiên tòa, chị đồng ý cùng bà Đỗ Thị T1 trả 155.000.000 đồng nhưng

yêu cầu được trả dần hàng tháng là 3.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh

Tây Ninh trình bày:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo thủ tục

tố tụng dân sự, không có vi phạm. Các đương sự tham gia tố tụng trong vụ án

chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Bà Trần

Thị Thanh T. Buộc bà Đỗ Thị T1 và Chị Nguyễn Huỳnh Quế A cùng trả cho Bà

Trần Thị Thanh T 155.000.000 đồng. Bà Đỗ Thị T1 và Chị Nguyễn Huỳnh Quế

A phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện

kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Trần Thị Thanh

T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Đỗ Thị T1, Chị Nguyễn Huỳnh

Quế A cùng liên đới trả tiền mua gạo còn nợ là 155.000.000 đồng; bà Đỗ Thị T1

và Chị Nguyễn Huỳnh Quế A có nơi cư trú tại huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh nên đây là tranh chấp dân sự về hợp đồng mua bán và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về yêu cầu của các đương sự: Bà Trần Thị Thanh T yêu cầu bà Đỗ

Thị T1 và Chị Nguyễn Huỳnh Quế A cùng liên đới trả 155.000.000 đồng. Bà Đỗ Thị T1, Chị Nguyễn Huỳnh Quế A thống nhất còn nợ Bà Trần Thị Thanh T tiền mua gạo là 155.000.000 đồng nên ghi nhận.

Bà Đỗ Thị T1, Chị Nguyễn Huỳnh Quế A yêu cầu được trả dần hàng

tháng là 3.000.000 đồng. Theo quy định tại Điều 6 Luật thi hành án Dân sự “1. Đương sự có quyền thoả thuận về việc thi hành án, nếu thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội ...”. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu này của bà Đỗ Thị T1, Chị Nguyễn Huỳnh Quế A thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan Thi hành án dân sự. Do đó, không xem xét giải quyết yêu cầu này là phù hợp theo quy định pháp luật.

Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm

2015; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án. Bà Đỗ Thị T1, Chị Nguyễn Huỳnh Quế A phải chịu 7.750.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ Điều 430, Điều 440, Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban

Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Đỗ Thị T1, Chị

Nguyễn Huỳnh Quế A cùng liên đới trả cho Bà Trần Thị Thanh T số tiền 155.000.000 đồng tiền nợ gốc, không yêu cầu tính lãi.

Kể từ ngày Bà Trần Thị Thanh T có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Đỗ

Thị T1, Chị Nguyễn Huỳnh Quế A chưa trả đủ số tiền trên thì hàng tháng bà Đỗ

Thị T1, Chị Nguyễn Huỳnh Quế A phải trả lãi theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật

dân sự 2015.

2. Về án phí:

Bà Đỗ Thị T1, Chị Nguyễn Huỳnh Quế A phải chịu 7.750.000 (bảy triệu

bảy trăm năm mươi nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho Bà Trần Thị Thanh T 3.925.000 (ba

triệu chín trăm hai mươi lăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên

lai thu số 0018707 ngày 10/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu

Thành, tỉnh Tây Ninh.

Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể

từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có

quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án

hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7,9 Luật thi hành án

dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi

hành án dân sự.

Cỡ chữ